Hiến pháp là gì ?

09:43 |
Cao Huy Thuần - Giáo sư đại học (Pháp)

Trước hết, tôi xin bày tỏ tình cảm đặc biệt của tôi đối với các trí thức, nhân sĩ, bạn bè đang bàn luận sôi nổi về hiến pháp ở trong nước và ngoài nước. Trong tình cảm liên đới đó, và ý thức rằng đây là vấn đề có liên quan đến sự tồn vong của đất nước, tôi xin có đôi lời góp ý vào quan tâm chung, với tư cách của một người làm nghề dạy học, không biết gì nhiều hơn là chút kiến thức trường ốc phổ thông. Tôi cố tránh mọi lý thuyết rườm rà, duy nhất hạn chế vào một câu hỏi thôi, câu hỏi đầu tiên của mọi câu hỏi khác: hiến pháp là gì?

Montesquieu

Tôi biết: trong thế giới ngày nay, hầu như nước nào cũng có hiến pháp, càng độc tài hiến pháp của họ lại càng hay, càng đầy mơ ước, càng đậm triết lý, càng rộng mở ra nhiều lĩnh vực "hiện đại" - xã hội, môi trường, sinh thái... Chính vì vậy mà tôi phải lấy lập trường trước khi đi vào đề: tôi đứng ở đâu mà nói chuyện, đứng trong thế giới văn minh hay lạc hậu hằng mấy thế kỷ? Chẳng lẽ tôi đi ngược lại khẩu hiệu của nước ta là một nước "văn minh"? Bởi vậy, tôi quyết định đứng trong thế đứng của một người dân trong một nước văn minh để gạt ra khỏi đề tài mọi chuyện hoa lá cành chẳng có liên quan gì đến việc định nghĩa hiến pháp trong bước đi đầu tiên của lịch sử đã hình thành ra khái niệm văn minh này. Từ đó, mỗi nước có thể hiểu theo cách hiểu của họ về hiến pháp, tùy hoàn cảnh lịch sử riêng biệt. Nhưng đã gọi là "hiến pháp" thì đương nhiên không thể không biết nguồn gốc của nó, ý nghĩa nguyên thủy của nó, tinh túy của nó. Nhân loại học văn minh của nhau là chuyện bình thường của mọi xã hội văn minh.

Vậy thì, ý nghĩa nguyên thủy của hiến pháp là gì? Ai cũng biết câu trả lời: nguồn gốc của nó nằm trong hai Cách Mạng, của nước Pháp và nước Mỹ.

Trước hết là nước Pháp. Thật ra, danh từ "constitution" - mà ta dịch là hiến pháp - đã có từ lâu, ngay dưới thời Trung cổ, nhưng không mang ý nghĩa như sẽ có về sau. Cho đến Cách Mạng 1789, nước Pháp sống dưới chế độ quân chủ, với ông vua có toàn quyền, nhưng ngay từ trong lý thuyết, quyền của ông gặp phải một hạn chế: ông phải tuân theo những "luật căn bản của vương quốc". Các luật này rất hiếm, và hồi đó chưa có phương thức gì cụ thể để buộc ông phải tuân theo, nhưng trên thực tế, chế độ quân chủ ở Pháp không đến nỗi "tuyệt đối" như ta nghĩ, và ngay cả ông vua đã từng tuyên bố "Quốc Gia là Trẫm" - Louis 14 - so với các nhà độc tài ngày nay hãy còn nhẹ ký lắm. Ngoài những "luật căn bản của vương quốc" mà quan trọng nhất là sự thỏa thuận của dân chúng về thuế má, quyền hành "tuyệt đối" của ông vua còn gặp phải một vài giới hạn khác do sự hiện diện của một vài định chế phong kiến nằm trung gian giữa vua và dân: các hội đoàn, đoàn thể nghề nghiệp, các thành phố... mà tập tục cổ truyền đã trao cho những đặc quyền, và những đặc quyền ấy được sử dụng một cách bền bỉ, dai dẳng, đối kháng với quyền của vua. Hơn nữa, các Tòa Án cũng có một quyền đặc biệt, từ đó mà dần dần phát triển lên thành quyền chính trị: đó là quyền đăng bạ những sắc dụ của ông vua; sắc dụ chiếu chỉ chỉ được thi hành sau khi được đăng bạ. Các ông Tòa không do vua bổ nhiệm nên vua không áp đảo được họ; cái chức vị ấy là họ mua. Đồng tiền ban chức tước, nhưng đồng tiền cũng ban độc lập mà họ cực lực bảo vệ để trở thành một quyền thực sự. Cuối cùng, tập tục buộc ông vua phải được sự thỏa thuận của một cơ quan thực sự đại diện của dân, một Đại Hội đại biểu tập hợp ba giai tầng xã hội: tăng lữ, quý tộc, bình dân. Dù cho Đại Hội này không được triệu tập từ 1614 đến 1789, trên lý thuyết, sự thỏa thuận vẫn là nguyên tắc mà quân quyền không chối bỏ.

Vậy thì, trong thời gian tiền Cách Mạng, nước Pháp ở trong cái thế tranh chấp dai dẳng, tuy chẳng quân bình, giữa ông vua và các cơ quan đối trọng mà quan trọng nhất là các Tòa Án. Ông vua xác quyết chủ quyền tuyệt đối của mình; các nhà luật học tiến bộ nhấn mạnh trên sự thỏa thuận để cai trị. Họ nói: thỏa thuận có nghĩa là ông vua không được đứng trên luật pháp, và do đó quyền của ông vua không phải tuyệt đối mà là có giới hạn. Nói một cách khác, nước Pháp ở trong cái thế tranh chấp giữa chủ thuyết quyền tuyệt đối của vua và chủ thuyết hiến pháp, hiến định. Trong tranh chấp lý thuyết đó, bên nào cũng viện dẫn "hiến pháp quân chủ", nhưng một bên nhấn mạnh quân chủ, một bên nhấn mạnh hiến pháp, chính sự dằng co giữa hai quyền lực, của vua và của Tòa Án, diễn tả bản chất của hiến pháp lúc đó. Ngã hẳn về phía vua chăng? Vua sẽ thành chuyên chế. Ngã hẳn về phía các Tòa Án chăng? Ông vua sẽ không hơn gì vua nước Anh, có tiếng mà không có miếng. Trên thực tế, mặc dầu cố gắng của các nhà luật học, nước Pháp đã không đi vào được con đường hạn chế quyền lực thực sự như ở Anh hồi thế kỷ 17. Các Tòa Án, cũng như Đại Hội đại biểu ba thành phần, không đủ sức để vượt qua quyền của vua. Nhưng đặc tính dằng co vẫn được duy trì kể cả trong lý thuyết, ngay cả về phía các lý thuyết gia chính thống của quân quyền. Jean Bodin, cực lực thuyết minh chủ quyền của vua là thế, mà cũng không diễn dịch "hiến pháp quân chủ" như là độc đoán, độc tài, cũng phân biệt "quân chủ vương giả" khác với quân chủ "bạo ngược", cũng nói rõ "quyền lực tuyệt đối" không phải là "quyền lực tùy tiện".

Montesquieu, khái niệm "hiến pháp" gắn liền với ý tưởng tự do và phân quyền mà ông suy ra và sáng tạo thêm từ chế độ chính trị của nước Anh.
Chính trong bối cảnh chính trị của một nước Pháp quân chủ, hạn chế trên thực tế nhưng vẫn tuyệt đối trên lý thuyết, mà tác phẩm "Tinh yếu của luật pháp" ("Esprit des lois") của Montesquieu ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử của khái niệm hiến pháp. Từ đây, từ năm 1748, danh từ "hiến pháp" mới thực sự có ý nghĩa hiện đại. Điểm đầu tiên phải lưu ý là Montesquieu xây dựng một lý thuyết tự do trong một không khí quyền lực tuyệt đối. Tự do là bà mẹ trong tác phẩm. Nhưng, như ông nói, tác phẩm không được sinh ra từ một bà mẹ tự do. Đó chính là điểm đặc sắc tuyệt cú của Montesquieu. Với Montesquieu, khái niệm "hiến pháp" gắn liền với ý tưởng tự do và phân quyền mà ông suy ra và sáng tạo thêm từ chế độ chính trị của nước Anh. Chương 11 của tác phẩm ghi rõ trong tiêu đề: "Về những luật tạo nên tự do trong mối tương quan giữa tự do và hiến pháp". Tương quan gì? Chỉ có tự do khi hiến pháp hạn chế quyền lực. Không ai không biết câu viết này, sáng chói như chân lý, ngọn hải đăng của thế kỷ 18: "Kinh nghiệm muôn thuở cho biết bất cứ ai có quyền lực đều có khuynh hướng lạm dụng quyền lực; lạm dụng cho đến mức gặp phải giới hạn". Vậy vấn đề là phải đặt ra giới hạn. Phân quyền nhắm mục đích ấy, bởi vì, lại một chân lý nữa, "quyền lực ngăn chận quyền lực" để quyền lực không nằm trọn trong một nắm tay.

Vậy, với Montesquieu, hiến pháp mang một ý nghĩa chính trị: hiến pháp tổ chức nhiều quyền lực trong nhà nước và tương quan giữa các quyền lực đó với nhau để quyền lực, một hiện tượng đáng sợ, trở thành ôn hòa. Một chính thể ôn hòa là một chính thể tốt nhất, như Aristote đã quan niệm từ thời cổ đại Hy Lạp.

Tác phẩm của Montesquieu làm dấy lên cả một trào lưu trí thức nâng danh từ "hiến pháp", từ chỗ chưa có ý nghĩa rõ ràng, lên địa vị vinh quang của khái niệm, đề tài của mọi tranh luận, mục tiêu của mọi tranh đấu nhắm hạn chế quyền hành. Sau 1750, các Tòa Án ở Pháp tận dụng quyền phản biện (droit de remontrances) sẵn có để bày tỏ ý kiến về các sắc dụ chiếu chỉ của vua và để bảo vệ những quyền căn bản mà họ không còn xem như của vương quốc nữa mà là của cả dân tộc và chính họ là cơ quan nắm giữ. Trong một phản biện của Tòa Án Rennes năm 1757, quyền của vua và quyền của các Tòa Án được diễn tả trong ý nghĩa mới đó của "hiến pháp": "Do một quyền thiêng liêng có sẵn nơi địa vị của Hoàng Thượng, bất khả truyền, bất khả trao cho ai khác, Hoàng Thượng là nguồn gốc của mọi pháp chế. Nhưng do một hiến pháp căn bản của nền quân chủ, Tòa Án của Hoàng Thượng là hội đồng cần thiết để luật được kiểm tra, là cơ quan để luật được ban hành, là người bảo đảm cho sự minh triết của luật, là nơi đăng bạ để duy trì và thi hành luật, bởi vì từ xưa đến nay Tòa Án là người cộng sự thiết yếu của Hoàng Thượng, nhờ đó việc cai trị được văn minh và gìn giữ".

Cùng với quan niệm mới về hiến pháp của Montesquieu, các Tòa Án nới rộng phạm vi của những "luật căn bản" và định nghĩa như là "những luật liên quan đến việc tổ chức các quyền trong chế độ quân chủ". Một tác giả quý tộc - marquis d'Argenson - dám so sánh ví von thế này: "Dân tộc ở trên các ông vua như Nhà Thờ công giáo ở trên giáo hoàng". "Luật căn bản", "hiến pháp", "quyền của Dân Tộc", các yếu tố đó trộn lẫn với nhau trong một luận thuyết nhằm chống lại luận thuyết quyền lực tập trung của vua. Từ "hiến pháp" càng ngày càng được dùng trong tranh luận, với ý nghĩa chính trị như đã nói ở trên, "như là một dụng cụ có khả năng giới hạn vương quyền để bảo vệ một trật tự siêu việt vương quyền".Tòa Án có mặt từ lâu trong lịch sử nhưng bây giờ mới cố gắng nâng mình lên trong thử thách để hiện diện như là đối trọng của vương quyền. Ý niệm đối trọng dần dần đi vào ý nghĩa của hiến pháp.

Tuy vậy, tất cả những tranh luận lý thuyết và thử thách thực tế trên đây vẫn không làm lung lay được một vương quyền cứng rắn. Khái niệm hiến pháp thay đổi, nhưng vẫn mang ý nghĩa chính trị, chưa được diễn dịch cụ thể ra thành ngôn ngữ luật pháp có khả năng tạo nền móng cho những quyết định pháp lý. Khác với nước Anh mà tập tục chính trị dần dần được thay đổi để chế độ quân chủ đổi mới trong ôn hòa, ở Pháp, cánh cửa không mở ra được vì vương quyền khóa chốt. Các Tòa Án nại quyền của Dân Tộc? Ông vua trả lời Ta đây, và chỉ Ta đây mới có quyền bảo vệ những "luật của lịch sử". Một bên là hiến pháp trong nghĩa tự do của Montesquieu, một bên là những "luật căn bản của vương quyền" diễn dịch theo điệp khúc cũ. Để ý nghĩa chính trị của hiến pháp có được nội dung pháp lý hữu hiệu, phải đợi 1789. Thế thôi, có ai bao giờ đoán trước được Cách Mạng sẽ đến đâu? Ai đoán trước được ông vua toàn quyền thế kia - Louis 16 - có ngày mất tiêu cái chỗ đội mũ - đội vương miện?

Với Cách Mạng 1789, một lý thuyết gia lừng lẫy khác, Sieyès, giải quyết tranh chấp giữa "hiến pháp" và "những luật căn bản của vương quyền" một cách trọn vẹn và cách mạng. Ông giải quyết bằng cách từ bỏ luận cứ quyền lịch sử để lập luận trên quyền thiên nhiên. Từ đây, tranh luận lý thuyết không còn xoay quanh giữa quyền "tuyệt đối" và quyền "tùy tiện" nữa, mà tập trung trên "chính thể hiến pháp" và "quyền bính chuyên chế": một bên có giới hạn do hiến pháp định, một bên vô giới hạn. Từ đây, hiến pháp có thêm một nội dung luật pháp để cụ thể hóa ý nghĩa chính trị. Biến chuyển này xảy ra được một phần lớn là nhờ ảnh hưởng của Cách Mạng Mỹ. Mười ba thuộc địa của Anh ở châu Mỹ nổi dậy giành độc lập, xây dựng một chế độ chính trị riêng, ghi nhận long trọng trong một văn bản được chấp thuận năm 1787 ở Đại Hội đại biểu Philadelphia. Đứng về phương diện khái niệm hiến pháp mà nói, họ nổi dậy chống lại cái gì cụ thể? Chống lại một số luật bất công, nhất là luật thuế má, của Quốc Hội Anh mà họ cho là trái với các hiến chương thuộc địa. Để chống lại các luật đó, họ nảy ra cái tư tưởng này: có các quyền không thể sửa đổi được, các quyền đó phải được ghi rõ trong một thứ luật khác cao hơn, tức là hiến pháp thành văn, có hiệu lực pháp lý, nghĩa là bắt buộc. Đừng quên rằng trong thời gian ấy, mẫu quốc của họ là nước Anh, và nước Anh chỉ có một thứ luật thôi là luật do Quốc Hội làm ra, không có hiến pháp thành văn. Làm luật được thì sửa đổi luật cũng được. Bởi vậy, cái ý nghĩ phải có một thứ luật cao hơn mọi luật khác, được ghi chép hẳn hoi thành văn bản, là ý nghĩ cách mạng, đưa khái niệm hiến pháp vào thời đại mới. Ý nghĩ đó bay ngược qua Đại Tây Dương, hạ cánh xuống Cách Mạng Pháp, giải quyết rốt ráo tranh chấp giữa "hiến pháp" và "những luật căn bản của lịch sử". Cả hai khái niệm được trộn lẫn với nhau thành một trong một văn bản, được soạn thảo và chấp nhận một cách đặc biệt, văn bản ấy luật hóa một khái niệm trước đây còn mang tính chính trị.

"Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật".

» Thomas Payne
Ngày nay, ta khó thấy ý nghĩ đó là tuyệt tác vì đã quá quen với cái từ "hiến pháp". Lúc đó, từ "hiến pháp" hãy còn lẫn lộn với từ "chính phủ", "chính quyền", hai bên không khác nhau cho đến trước ngày Cách Mạng Mỹ. Một nhân vật quý tộc Pháp, trong một thư viết cho vua, đã thốt ra một câu tiêu biểu: "Làm sao người ta có thể đồng thời vừa là bạn của chính quyền vừa là kẻ thù của hiến pháp được?" Từ đây, gió lốc cách mạng thổi bay từ "gouvernement" ra khỏi từ "constitution". Yêu vợ không phải là yêu bồ. Hai vợ không phải đều là vợ cả. Thomas Payne, lý thuyết gia nổi bật của Cách Mạng Mỹ, nói rõ: "Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật". Ông nhắc lại lần nữa: "Một hiến pháp là một điều có trước chính quyền, và một chính quyền chỉ là con đẻ của một hiến pháp. Hiến pháp của một nước không phải là văn bản của một chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền".

Giữa hai bờ Đại Tây Dương, khái niệm hiện đại về hiến pháp thành hình nhờ ảnh hưởng qua lại giữa Montesquieu và Cách Mạng Mỹ. Montesquieu ngại quyền lực. Các thuộc địa ở Mỹ, ngay từ hồi nổi dậy, cũng đã nhìn quyền lực như thế qua ông vua George III, tuy rằng hồi đó vua đã bắt đầu mất thực quyền trong chế độ chính trị nước Anh. Cũng từ Montesquieu, lý thuyết phân quyền được thực hiện tại Mỹ, và áp dụng chặt chẽ hơn cả ở châu Âu vì Quốc Hội không thể buộc Tổng Thống từ chức, Tổng Thống không thể giải tán Quốc Hội. Ngược lại, từ Mỹ, việc luật hóa lý thuyết chủ quyền thuộc về toàn dân ảnh hưởng trên tư tưởng của Sieyès. Chủ quyền đã thuộc về dân thì việc làm ra hiến pháp không phải là việc của một cơ quan nào mà là việc của toàn dân: từ đó lý thuyết về một "quyền lập hiến" được chế ra thành luật. Sieyès tóm tắt: "Hiến pháp bao gồm đồng thời: việc thành lập và tổ chức nội bộ các quyền lực khác nhau của nhà nước, mối tương quan tất yếu và sự độc lập giữa các quyền lực đó, và cuối cùng, những cảnh giác chính trị phải cẩn thận xây dựng chung quanh, để các quyền lực đó lúc nào cũng có ích lợi nhưng không bao giờ trở thành nguy hiểm. Đó là ý nghĩa chính xác của danh từ hiến pháp; ý nghĩa đó liên quan đến toàn thể quyền lực của nhà nước và sự phân chia những quyền lực đó".

Từ đầu, ý tưởng của Montesquieu đã liên hệ rõ ràng khái niệm hiến pháp với khái niệm quyền lực hạn chế để chống lại quyền hành tuyệt đối, nghĩa là vô giới hạn và tùy tiện. Đến đây, việc phân quyền được xây dựng thành những nguyên tắc thành văn, tối thượng, mà mục đích là thiết lập những giới hạn minh bạch, ai cũng biết, về quyền lực của người cầm quyền. "Nếu quyền lực không có giới hạn, quyền lực tất yếu trở thành tùy tiện, và không có gì trực tiếp đối chọi với một hiến pháp bằng bạo quyền", Mounier đã phát biểu như thế trong diễn văn đọc ngày 7-7-1789 trước Hội Đồng Lập Hiến. Ông là đại biểu lừng danh của giai cấp bình dân. Tư tưởng đó được viết chắc nịch như đinh đóng cột trong điều 16 của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền: "Bất cứ xã hội nào trong đó các quyền không được bảo đảm và sự phân quyền không được tôn trọng, xã hội đó không có hiến pháp".

Tác giả bài này muốn nói gì khi nhắc lại những kiến thức phổ thông trên đây? Duy nhất điều này thôi: lịch sử của khái niệm hiến pháp bắt đầu từ một khao khát: tự do; khao khát đó sẽ không bao giờ thực hiện được trước một quyền lực tuyệt đối; để quyền lực không phải là bạo lực, phải phân quyền; để sự phân quyền được rõ ràng, minh bạch, phải ghi thành luật, luật đó là tối thượng, là mẹ của mọi thứ luật khác. Nghĩa là: để định nghĩa hiến pháp là gì, đừng quên rằng bắt đầu quá trình là một ý tưởng chính trị và kết thúc là một văn bản luật pháp, từ đó mà quyết định cái gì là hợp pháp, cái gì là bất hợp pháp trong mọi hành động lập pháp và lập quy của các cơ quan nhà nước. Chỉ một ý đó thôi mà tác giả đã lặp đi lặp lại bao nhiêu lần: Hiến pháp là một ý tưởng chính trị được luật hóa vào một giai đoạn quan trọng nào đó của lịch sử để một trật tự chính trị trở thành chính đáng. Điều này bao gồm hai ý nghĩa: thứ nhất, trật tự chính trị nào cũng mượn danh nghĩa luật để trở thành một trật tự pháp lý; nhưng thứ hai, không luật pháp nào ban tính chính đáng cho một trật tự chính trị nếu luật đó không xuất phát từ nguyện vọng đích thực của nhân dân.

°°°

Hơn một thế kỷ rưỡi sau Cách Mạng, nước Pháp có ông tổng thống De Gaulle làm một hiến pháp mới - hiến pháp hiện tại - để chấm dứt một trật tự chính trị cũ, lập một trật tự chính trị mới, mở đầu Đệ Ngũ Cộng Hòa. Trong một cuộc họp báo quan trọng ngày 31-1-1964, ông định nghĩa hiến pháp trong một câu nổi tiếng: "Hiến pháp là một tinh thần, những định chế, một thực tiễn". Quá đúng. Và bộc lộ ra được những gì tôi vừa trình bày ở trên.

Bất cứ hiến pháp nào trên thế giới đều có thể được đặt dưới một câu hỏi: "hiến pháp này được làm ra để thể hiện cái tinh thần gì vậy?" Dân chúng chỉ cần biết cái tinh thần ấy một cách tỏ tường và chân thật là đã có thể phát biểu ngay đó là hiến pháp của mình hay của ai.
Một thực tiễn? Tất nhiên, vì hiến pháp phải được áp dụng để trở thành luật nói, nếu không thì là luật câm. Những định chế? Hiển nhiên, khỏi cần nói. Tôi chú trọng mấy chữ đầu: "một tinh thần". Vậy tinh thần này là gì trong bối cảnh lịch sử đã làm hình thành hiến pháp ở Pháp và ở Mỹ? Tự do! Tinh thần này quyết định tất cả. Quyết định việc thành lập các định chế. Quyết định thực tiễn của pháp luật, cả luật mẹ lẫn luật con. Bất cứ hiến pháp nào trên thế giới đều có thể được đặt dưới một câu hỏi: "hiến pháp này được làm ra để thể hiện cái tinh thần gì vậy?" Dân chúng chỉ cần biết cái tinh thần ấy một cách tỏ tường và chân thật là đã có thể phát biểu ngay đó là hiến pháp của mình hay của ai.

Vậy thì dân chúng Việt Nam chờ đợi cái tinh thần gì được luật hóa trong hiến pháp? Một tinh thần phù hợp với giai đoạn hòa bình của đất nước, sau nhiều năm chiến tranh đòi hỏi con người phải hy sinh nhiều thứ, kể cả thứ quý nhất trong đời là tự do. Chiến tranh là tình trạng bất thường, hòa bình là chấm dứt tình trạng bất thường, là phải trả lại cho con người cái khao khát bức thiết nhất của con người ở muôn thuở và muôn nơi, là phải trả lại cho con người Việt Nam cái giá đã mua bằng máu, là phải thực hiện lời cam kết chói lọi trong Tuyên ngôn độc lập vinh quang: ai cũng biết, đó là "quyền tự do". "Không có gì quý hơn độc lập, tự do": đó là tinh thần mà người dân chờ đợi luật hóa trong hiến pháp, một hiến pháp hoàn toàn mới, phù hợp với giai đoạn mới, giai đoạn hòa bình.
Tinh thần là như vậy, định chế sẽ thế nào? Tất cả những gì tôi nói trong bài này có thể tóm gọn trong hai chữ: ôn hòa. Quyền lực phải biết ôn hòa. Chính thể ôn hòa là chính thể tốt nhất. Đó là văn minh mà Âu châu thừa hưởng từ tư tưởng của Hy Lạp cổ đại. Montesquieu cũng chỉ là tiếp nối tư tưởng Aristote. Nhưng đó cũng chính là văn minh của Việt Nam, của tư tưởng Việt Nam, không hề độc đoán.
Đảng Cộng sản đã nhiều lần nêu vấn đề định nghĩa lại lãnh đạo. Đúng vậy, nhưng thế này thì hợp với mong mỏi hơn: định nghĩa lại lãnh đạo là thế nào để phù hợp với thời bình, thế nào để thực hiện lời cam kết "quyền tự do". Đó là cứu cánh của chính trị. Đó là cứu cánh của quyền lực. Một quyền lực ôn hòa trong thời bình, khác với thời chiến tranh, khác với thời tranh đấu bí mật trước mùa Thu tháng Tám. Đó là tinh thần mới phải có trong hoàn cảnh mới của đất nước, cần thực sự đoàn kết toàn dân. Tinh thần đó sẽ quyết định tất cả mọi điều khác trong hiến pháp. Tinh thần đó, người dân khao khát chờ đợi từ lâu để được là tác giả của hiến pháp mới.

Dưới ảnh hưởng đó của tư tưởng luật hóa hiến pháp đến từ Mỹ, từ ngữ "luật căn bản" của Pháp được ngôn ngữ luật đưa lên địa vị tối thượng: hiến pháp là luật tối thượng, nghĩa là, rất cụ thể, cao hơn tất cả các luật khác và làm vô hiệu tất cả luật nào trái lại. Đây cũng là một sáng tạo tuyệt tác bắt nguồn từ một sự việc bình thường trước Tòa Án Tối Cao của Mỹ. Ông Marburry, được bổ nhiệm thẩm phán nhưng chờ mãi đến đáo hạn mà vẫn không nhận được giấy tờ bổ nhiệm. Ông kiện tổng thống Adams (mà người đại diện là bộ trưởng Madison) đòi gửi công văn bổ nhiệm. Ông Tòa Marshall xử rằng: kiện là đúng, nhưng đạo luật được viện dẫn ra để kiện là không hợp với hiến pháp, là vi hiến. Chuyện bình thường ở Mỹ. Nhưng là chuyện động trời trong lịch sử hiến pháp của Pháp vì Tòa Án dám xía vào lĩnh vực lập pháp để phán đúng hay sai. Cần nhấn mạnh vụ kiện danh tiếng Marburry chống Madison này ở đây để hiểu quá trình luật hóa hiến pháp và sức mạnh của tinh thần trọng pháp. Mười ba thuộc địa ở Mỹ phải nổi dậy để đòi truất bỏ những luật bất công. Khổng Mạnh ở ta ngày xưa cũng lao xao với sĩ tử rằng nước có thể lật thuyền... Suy diễn bài học từ ông Tòa Marshall, luật pháp có chức năng và khả năng giải quyết tranh chấp chính trị một cách hòa bình, khỏi cần gươm dáo, mà cũng khỏi phải lội nước lật thuyền.

Chú thích:

Một số câu trích dẫn đặt trong ngoặc kép là lấy từ: Olivier Beaud, L'Histoire du concept de constitution en France. De la constitution politique à la constitution comme statut juridique de l'Etat, Jus politicum, Vol. 2, Juin 2010. Có thể đọc trên mạng: http://www.juspoliticum.com/L-histoire-du-concept-de.html

Theo Tạp Chí Tia Sáng
Read more…

What is Constitutionalism? Chủ nghĩa hợp hiến là gì?

09:34 |
Trong lý thuyết chính trị, chủ nghĩa hợp hiến là một khái niệm giải thích rằng một chính quyền không thể có được quyền lực từ chính bản thân mình, mà quyền lực của chính quyền là kết quả của việc có được một văn bản pháp luật mà trao cho thể chế cai trị những quyền lực nhất định. Khái niệm này là đối lập rõ nét với chế độ quân chủ, chế độ thần quyền, và chế độ độc tài, trong đó quyền lực không xuất phát từ một văn bản pháp luật đã được soạn ra trước. Trong chế độ quân chủ, quyền lực bắt nguồn như là quyền bất khả xâm phạm của quân vương hoặc nữ hoàng. Trong một chế độ thần quyền, tất cả sức mạnh của một đảng cầm quyền có nguồn gốc từ một tập hợp các niềm tin tôn giáo, được cho là tồn tại do ý muốn của Thượng đế, và trong một chế độ độc tài, quyền lực được bắt nguồn từ ý chí của một người hoặc một nhóm người và ý thức hệ của họ, mà không không nhất thiết phải đại diện cho ý chí của nhân dân.

Do đó chủ nghĩa hợp hiến tất nhiên quy định một hệ thống của chính quyền, trong đó quyền lực của chính phủ được giới hạn. Các viên chức chính phủ, dù do dân cử hay không, đều không được hành động chống lại hiến pháp của chính họ nếu hiến pháp ấy phù hợp. Hiến pháp là thể thức luật pháp cao nhất của một đất nước, trong đó mọi công dân, kể cả chính phủ, đều phải tuân thủ. Khá nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các hình thức của chủ nghĩa hợp hiến trong chính phủ của họ.

Tại Hoa Kỳ, không chỉ bản thân hiến pháp hạn chế quyền lực của chính phủ, mà còn quy định rằng ba ngành khác nhau của chính phủ hạn chế quyền hạn của các ngành khác của chính phủ bằng cách áp đặt một hệ thống kiểm soát và cân bằng. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, Tổng Thống, người đứng đầu ngành hành pháp của chính phủ, không thể tuyên bố chiến tranh chống một quốc gia khác mà không có sự chấp thuận của Quốc hội. Hiến pháp Hoa Kỳ được thành lập theo cách này để hạn chế quyền lực của bất kỳ một nhánh nào của chính phủ.

Một hình thức khác của chủ nghĩa hợp hiến trên thế giới tồn tại ở Vương quốc Anh, New Zealand, và Israel Các quốc gia này có hiến pháp bất thành văn. Một hiến pháp bất thành văn là không phải là một hiến pháp đã được viết ra thành văn bản, mà là một hệ thống luật không được viết ra, mà phụ thuộc rất nhiều vào ưu tiên lập pháp và thủ tục quốc hội. Bất chấp thiếu vắng một văn bản vật thể thực sự, trong đó luật tối cao của đất được sử dụng, loại “hiến pháp” này có thể được tham khảo tại tòa án ở các quốc gia, này, mà bản thân các chính phủ cũng tuân thủ và không thể hành động chống lại.

Ngoài ra còn có một cách giải thích và cách sử dụng khác của thuật ngữ chủ nghĩa hợp hiến trong thảo luận chính trị. Trong chủ nghĩa hợp hiến chính/chuẩn tắc, tiêu điểm chính là các “câu hỏi hiến pháp”, hoặc các ý kiến ​​khác nhau về những gì mà hiến pháp cần phải đề cập trong nội dung của nó. Một ví dụ về hình thức này của chủ nghĩa hợp hiến tồn tại trong nền chính trị Mỹ, bất cứ khi nào các bên khác nhau của một cuộc tranh luận chính trị lập luận rằng liệu hiến pháp cần phải được tu chính/sửa đổi hay không, thì Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép điều đó xảy ra.

© Nguyễn Quang dịch


Nguồn: What Is Constitutionalism? - WiseGeek

oOo

What Is Constitutionalism?

Constitutionalism is a concept in political theory that explains that a government does not derive its power from itself, but gains its power as the result of there being a set of written laws that give the governing body certain powers. This concept is in sharp opposition to monarchies, theocracies, and dictatorships, in which the power does not derive from a pre-drawn legal document. In a monarchy, the power is derived as an inalienable right of the king or queen. In a theocracy, all of the power of a governing party is derived from a set of religious beliefs, which are thought to exist as a result of the will of God, and in a dictatorship, the power is derived from the will of a single or group of people and their ideology, which does not necessarily represent the will of the people.

Constitutionalism therefore naturally prescribes a system of government in which the government’s powers are limited. Government officials, whether elected or not, canot act against their own constitutions if they see fit. Constitutional law is the highest body of law in the land, which all citizens, including the government, are subjected to. Several nations around the world have adopted forms of constitutionalism in their governments.

,In the United States, not only does the constitution itself limit the power of the government, it prescribes that the three different branches of the government limit the powers of the other branches of government by imposing a system of checks and balances. For example, in the United States, the president, who is the chief of the executive branch of government, may not declare war on another nation without congressional approval. The United States Constitution was set up in this way to limit the power of any one branch of its government.

Another form of constitutionalism in the world exists in the United Kingdom, New Zealand, and Israel. These nations all have uncodified constitutions. An uncodified constitution is not a written constitution, but rather a system of unwritten laws, which depend heavily on legislative precedence and parliamentary procedure. Regardless of the lack of an actual physical document in which the supreme law of the land is used, the “constitution” may be referred to in court in these nations, to which the government themselves must also submit and cannot act against.

There is also a different interpretation and usage of the term constitutionalism in political discussion. In prescriptive constitutionalism, the concept focuses on “constitutional questions,” or differing opinions on what a constitution ought to have in its content. An example of this form of constitutionalism exists in American politics, whenever the differing sides of an political debate argue over whether or not the constitution ought to be amended, which the United States Constitution allows to occur.

Read more…

Xã hội dân sự có thể làm gì để phát triển dân chủ

04:40 |
Larry Diamond

Xin chào quý vị. Tôi muốn nói chuyện ngắn gọn với quý vị hôm nay về vai trò của xã hội dân trong việc xây dựng và củng cố nền dân chủ. Tất cả quý vị đều là các nhà lãnh đạo xã hội dân sự, những người đang tham gia vào nỗ lực này theo nhiều cách khác nhau, vì vậy tôi rất hài lòng để có thể chia sẻ những ý tưởng với quý vị.

Các tổ chức xã hội dân sự, theo tôi có nghĩa là toàn bộ các nhóm có tổ chức và các thiết chế độc lập với nhà nước, tự nguyện, và ít nhất là đến một mức độ nào đó tự tạo và tự chủ. Điều này tất nhiên bao gồm các tổ chức phi chính phủ như những người trong căn phòng này, và còn cả các phương tiện thông tin đại chúng độc lập, các think tanks (trí khố), các trường đại học, và các nhóm xã hội và tôn giáo.

Để trở thành một bộ phận của xã hội dân sự, các nhóm phải đáp ứng một số điều kiện khác nữa. Trong một nền dân chủ, các nhóm xã hội dân sự phải tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền cá nhân, và quyền lợi bày tỏ quan tâm và ý kiến ​​của các nhóm khác. Một phần nghĩa của từ "dân sự" có nghĩa là khoan dung và chấp nhận đa nguyên và đa dạng.

Các nhóm xã hội dân sự có thể thiết lập quan hệ với các đảng phái chính trị và nhà nước, nhưng họ phải giữ tính độc lập, và họ không tìm kiếm quyền lực chính trị cho bản thân.

Thông thường trong quá trình chuyển đổi, nổi lên các nhóm tìm cách độc chiếm cuộc sống và suy nghĩ của các thành viên của họ. Những nhóm này không dung chứa quyền bất đồng chính kiến của các thành viên, và không tôn trọng các nhóm khác bất đồng với họ. Một số các nhóm này chỉ có thể là bình phong cho các đảng phái chính trị hay những phong trào tìm cách giành quyền kiểm soát của nhà nước. Những nhóm này không phải là bộ phận của xã hội dân sự và họ không đóng góp để xây dựng một nền dân chủ.

Thế thì, các tổ chức độc lập, tự nguyện, tuân thủ pháp luật, khoan dung và đa nguyên của xã hội dân sự có thể làm gì để xây dựng và duy trì nền dân chủ?

Vai trò đầu tiên và cơ bản nhất của xã hội dân sự là để hạn chế và kiểm soát quyền lực của nhà nước. Tất nhiên, bất cứ nền dân chủ nào cần có một nhà nước làm tốt chức năng và có thẩm quyền. Tuy nhiên, khi một quốc gia đang nổi lên từ nhiều thập kỷ của chế độ độc tài, thì cũng cần phải tìm cách để kiểm tra, theo dõi, và kiềm chế quyền lực của các lãnh đạo chính trị và quan chức nhà nước.

Xã hội dân sự nên xem xét cách thức các quan chức nhà nước sử dụng quyền hạn của mình. Họ cần phải nâng cao mối quan tâm của công chúng về sự lạm dụng quyền lực. Họ nên vận động hành lang cho việc truy cập thông tin, bao gồm cả quyền tự do về pháp luật thông tin và các quy tắc và thiết chế kiểm soát tham nhũng.

Điều này tạo thành chức năng quan trọng thứ hai của xã hội dân sự: phơi bày các hành vi tham nhũng của các quan chức công cộng và vận động hành lang cho các cải cách quản trị tốt. Ngay cả khi luật pháp và các cơ quan chống tham nhũng tồn tại, họ không thể hoạt động hiệu quả mà không có sự hỗ trợ tích cực và sự tham gia của xã hội dân sự.

Một chức năng thứ ba của xã hội dân sự là thúc đẩy sự tham gia chính trị. Các tổ chức phi chính phủ có thể làm điều này bằng cách giáo dục người dân về quyền lợi và nghĩa vụ của họ với tu cách là những công dân dân chủ, và khuyến khích họ lắng nghe các chiến dịch vận động bầu cử và bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử. Các tổ chức phi chính phủ cũng có thể giúp phát triển các kỹ năng của công dân về làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề chung, để thảo luận các vấn đề công cộng, và bày tỏ quan điểm của họ.

Thứ tư, các tổ chức xã hội dân sự có thể giúp phát triển các giá trị khác của cuộc sống dân chủ: khoan dung, hòa giải, thỏa hiệp, và tôn trọng các quan điểm đối lập. Nếu không có một văn hóa sâu sắc về hòa giải thì nền dân chủ không thể ổn định được. Những giá trị này không thể đơn giản chỉ được giảng dạy là xong, chúng còn phải được trải nghiệm thông qua thực hành. Chúng tôi có các tấm gương xuất sắc về các tổ chức phi chính phủ từ các nước khác, đặc biệt là các nhóm phụ nữ đã gieo trồng các giá trị này trong thanh niên và người lớn thông qua nhiều chương trình thực hành tham gia và tranh luận khác nhau.

Thứ năm, tổ chức xã hội dân sự cũng có thể giúp phát triển các chương trình giáo dục công dân dân chủ trong các trường học. Sau chế độ độc tài, cải cách toàn diện là cần thiết để sửa đổi chương trình giảng dạy, viết lại sách giáo khoa, và đào tạo lại giáo viên để giáo dục giới trẻ về tội ác của quá khứ và dạy cho họ các nguyên tắc và các giá trị của nền dân chủ. Đây là một nhiệm vụ quá quan trọng nên không thể chỉ dành cho các quan chức trong Bộ Giáo dục. Xã hội dân sự phải được tham gia như một đối tác xây dựng và ủng hộ việc đào tạo về dân chủ và nhân quyền.

Thứ sáu, xã hội dân sự là một diễn đàn để thể hiện các lợi ích đa dạng, và một vai trò của các tổ chức xã hội dân sự là vận động nhằm phục vụ cho các nhu cầu và mối quan tâm của các thành viên của mình, phụ nữ, sinh viên, nông dân, người bảo vệ môi trường, công đoàn viên, luật sư, bác sĩ, v.v. Các tổ chức phi chính phủ và các nhóm lợi ích có thể trình bày quan điểm của họ với quốc hội và hội đồng tỉnh, bằng cách liên lạc với các thành viên đơn lẻ và điều trần trước các ủy ban của quốc hội. Họ cũng có thể thiết lập một cuộc đối thoại với các Bộ của chính phủ và các cơ quan có liên quan để vận động cho lợi ích và mối quan tâm của họ.

Và không chỉ những nhóm tháo vát và có tổ chức tốt, thì tiếng nói của họ mới được lắng nghe. Theo thời gian, các nhóm có lịch sử bị áp bức và đẩy ra ngoài rìa xã hội có thể tổ chức để khẳng định các quyền và bảo vệ lợi ích của họ nữa.

Cách thứ bảy mà xã hội dân sự có thể củng cố dân chủ là cung cấp các hình thức mới về mối quan tâm và tình đoàn kết mà liên kết các hình thức cũ của các mối quan hệ về bộ tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, và các bản sắc khác. Dân chủ không thể ổn định nếu người ta liên kết với những người khác trong cùng một tôn giáo hoặc bản sắc. Khi những người thuộc các tôn giáo và bản sắc dân tộc khác nhau đến với nhau trên cơ sở lợi ích chung của họ với tư cách là phụ nữ, nghệ sĩ, bác sĩ, sinh viên, công nhân, nông dân, luật sư, nhà hoạt động nhân quyền, nhà hoạt động môi trường, v.v., thì sinh hoạt dân sự trở nên phong phú hơn, đa tạp hơn, và khoan dung hơn.

Thứ tám, xã hội dân sự có thể cung cấp sự đào tạo cho các nhà lãnh đạo chính trị trong tương lai. Các tổ chức phi chính phủ và các nhóm khác có thể giúp xác định và đào tạo các kiểu lãnh đạo mới mà sẽ giải quyết các vấn đề cộng đồng quan trọng và có thể được tuyển chọn để ứng cử vào các chức vụ chính trị ở tất cả các cấp và phục vụ trong chính quyền tỉnh hay nội các quốc gia. Kinh nghiệm từ các nước khác cho thấy xã hội dân sự là một vũ đài đặc biệt quan trọng để từ đó tuyển dụng và đào tạo các nữ lãnh đạo tương lai.

Thứ chín, xã hội dân sự có thể giúp thông tin cho công chúng về các vấn đề công cộng quan trọng. Đây không chỉ là vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng, mà còn là của các tổ chức phi chính phủ mà có thể cung cấp diễn đàn để tranh luận về chính sách công và phổ biến thông tin về các vấn đề trước Quốc hội mà có ảnh hưởng đến lợi ích của các nhóm khác nhau, hoặc của xã hội nói chung.

Thứ mười, các tổ chức xã hội dân sự có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc làm trung gian và giúp đỡ để giải quyết xung đột. Ở các nước khác, các tổ chức phi chính phủ đã phát triển các chương trình chính thức để đào tạo các huấn luyện viên nhằm làm giảm xung đột chính trị và sắc tộc và dạy cho các nhóm về giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng và hòa giải.

Thứ mười một, các tổ chức xã hội dân sự có một vai trò quan trọng trong việc giám sát hoạt động bầu cử. Điều này đòi hỏi một liên minh rộng rãi của các tổ chức, không có liên quan đến các đảng phái chính trị hoặc ứng cử viên, mà sẽ triển khai theo dõi, giám sát trung lập ở tất cả các điểm bỏ phiếu khác nhau để đảm bảo rằng bỏ phiếu và kiểm phiếu là hoàn toàn tự do, công bằng, hòa bình, và minh bạch. Rất khó để có được các cuộc bầu cử đáng tin cậy và công bằng trong một nền dân chủ mới, trừ khi các nhóm xã hội dân sự đóng vai trò này.

Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng xã hội dân sự không phải chỉ đơn giản gây căng thẳng với nhà nước. Bởi vì việc xã hội dân sự độc lập với nhà nước không có nghĩa là nó luôn luôn cần phải phê bình và phản đối nhà nước. Trong thực tế, bằng cách làm cho nhà nước các cấp có trách nhiệm hơn, đáp ứng hơn, bao hàm hơn, hiệu quả hơn và do đó hợp pháp hơn, một xã hội dân sự mạnh mẽ tăng cường sự tôn trọng của công dân đối với nhà nước và thúc đẩy sự tham gia tích cực của họ với công việc nhà nước.

Một nhà nước dân chủ không thể ổn định, trừ khi nó có hiệu quả và hợp pháp, và có được sự tôn trọng và hỗ trợ của các công dân của mình. Xã hội dân sự là phương tiện kiểm tra, theo dõi, nhưng cũng là một đối tác quan trọng trong khi tìm kiếm hình thức quan hệ tích cực này giữa nhà nước dân chủ và công dân của nó.



 Nguồn: Bài trình bày trước Ban Quản Trị tổ chức phi chính phủ, 10 tháng hai năm 2004, Trung tâm Hội nghị, Baghdad

Theo blog Góc Sân
Read more…

Aleksandr Solzhenitsyn - Đừng lấy dối trá làm lẽ sống

04:24 |
Aleksandr Solzhenitsyn
Thái Phục Nhĩ dịch

Con đường của chúng ta là không tự nguyện ủng hộ bất kì sự dối trá nào. Khi chúng ta đã biết bản chất của hư ngụy ở đâu, thì chúng ta mỗi người sẽ biết cách nhìn ra đâu là dối, đâu là thật.

Con đường của chúng ta là tránh xa chỗ thối nát. Nếu chúng ta đừng ghép đống xương tàn và lớp vảy khô của ý thức hệ lại với nhau, nếu chúng ta đừng mất công vá lại mớ giẻ rách, thì chúng ta sẽ ngạc nhiên thấy là sự dối trá sẽ hóa ra bất lực và tiêu ma nhanh chóng. Lúc đó, cái gì cần lột trần mới thực phơi ra trước cả và thiên hạ...

Đã có thời thậm chí rỉ tai nhau chúng ta cũng không dám! Bây giờ thì chúng ta viết và đọc sách báo chui, và thỉnh thoảng có tới Khoa Học Viện hút thuốc gặp nhau thì cũng thành thật mà phàn nàn với nhau rằng:

Chúng đang giở trò gì đây? Chúng còn xỏ mũi ta tới đâu nữa? Quê hương vừa nghèo vừa điêu tàn mà chúng cứ huyênh hoang khoe nhau những thành tựu trên vũ trụ. Chúng ôm mấy cái chế độ cai trị lạc hậu và dã man, rồi thổi cho lửa nội chiến bùng lên. Chúng rút ruột để nuôi Mao Trạch Đông một cách vô tội vạ - rồi tống cổ chúng ta ra chiến trường đánh nhau với hắn, mà chúng ta phải đi. Trốn sao cho thoát? Chúng thích đưa ai ra tòa thì đưa, chúng nhốt người tỉnh táo vào nhà thương điên – chúng nó luôn giở những trò đó, còn chúng ta thì bất lực.

Mọi thứ sắp rớt xuống đáy cùng. Tinh thần chúng ta đã chết hết, còn thân xác chúng ta và cả con cái chúng ta nữa, cũng sắp bị ném vào lửa cháy rụi. Thế mà chúng ta vẫn bình chân như vại, cứ nhếch mép cười một cách tiểu nhân, và lưỡi không bị ngọng mà vẫn lúng búng trong miệng. Nhưng chúng ta biết làm gì mà ngăn nó cho được? Hay là chúng ta không đủ sức?

Chúng ta bị tước đoạt nhân tính một cách tàn bạo tới mức chỉ vì miếng cơm manh áo qua ngày thôi mà chúng ta sẵn sàng vứt bỏ mọi nguyên tắc và linh hồn của mình, mọi nỗ lực của tiền nhân và mọi cơ hội của hậu thế - miễn sao đừng đụng tới sự tồn tại mong manh của mình là được. Chúng ta không có khí phách, không có tự trọng, không có nhiệt tình. Vũ khí hạch tâm, thế chiến thứ ba chúng ta không sợ. Chúng ta đã nấp kĩ trong hang rồi. Chúng ta chỉ sợ làm người công dân có dũng khí. Chúng ta sợ lạc đàn, sợ đi một mình không có cơm ăn, không có khí đốt, không có hộ khẩu thành phố. [i]

Chúng ta bị nhồi sọ chính trị, bị người ta tiêm cho cái ý nghĩ phải an thân đã, rồi sau sẽ tốt đẹp hết. Chúng ta không thoát khỏi được hoàn cảnh và điều kiện xã hội của mình. Cuộc sống hàng ngày quyết định ý thức. Chúng ta thì có liên quan gì tới mấy việc đó? Và có thật là chúng ta không thay đổi được gì không?

Được chứ, được tất cả là đàng khác. Nhưng chúng ta dối lòng mình để an thân. Đừng trách bọn chúng, có trách thì trách chúng ta đi. Có người vặn hỏi: thì ông muốn nghĩ gì mà chẳng được. Chúng đã dém miệng chúng ta. Có ai chịu nghe chúng ta, có ai thèm đoái hoài chúng ta. Làm sao mà bắt chúng nghe chúng ta nói được? Không thể nào thay đổi được não trạng của chúng.

Tất nhiên là có thể đầu phiếu để loại bọn chúng, nhưng mà đất nước này làm gì có tuyển cử. Ở phương Tây người ta có bãi công và biểu tình phản đối, còn chúng ta thì bị đàn áp thẳng tay, có những cảnh mới nghĩ tới đã thấy rùng mình: ai dám thình lình bỏ việc mà xuống đường? Song le, những con đường chết chóc mà dân tộc Nga đã mò mẫm trong đau khổ suốt thế kỉ qua không phải dành cho chúng ta, mà quả thật chúng ta không cần đi lại những con đường như vậy.

Bây giờ búa liềm đã làm xong việc, hạt giống gieo xuống đã nảy mầm, chúng ta có thể thấy là những kẻ còn trẻ tuổi mà cuồng vọng, cho là có thể dùng khủng bố, cách mạng đẫm máu và nội chiến để mang lại bình đẳng và hạnh phúc cho đất nước chúng ta, chính họ là những kẻ lạc lối.

Thế đủ rồi, xin cảm ơn các vị giác ngộ cách mạng tiên phong! Bây giờ chúng ta mới biết phương pháp xú uế tất sinh kết quả xú uế. Hãy để cho tay của chúng tôi trong sạch.

Cái vòng trói buộc này đã đóng chặt rồi sao? Không còn lối thoát? Và chúng ta chỉ còn một đường duy nhất thôi, là khoanh tay đợi? Đợi cho tới khi có biến? Chừng nào mỗi ngày chúng ta đều thừa nhận, ca ngợi, và nuôi dưỡng – chứ không tự mình chém phăng đi một điều không ai không thấy, là sự dối trá – thì đừng mong có chuyện gì xảy ra.

Bạo động len lỏi vào cuộc sống an bình, cái mặt nó toát ra vẻ ngạo mạn, y như đang khoác một ngọn cờ và hô to: “Bạo động đây. Tránh ra, nhường đường cho tao, không tao nghiến nát tụi bay.” Nhưng mà bạo động mau già. Rồi nó mất hết tự tín, và để giữ cho cái mặt ra vẻ khả kính nó rước thằng dối tra về làm đồng minh – vì không phải ngày nào nó cũng thò bàn tay thô bạo của nó ra được, mà thò ra được cũng bất tất chụp hết mọi người. Nó chỉ cần chúng ta ngoan ngoãn phục tùng dối trá và hàng ngày thực hành dối trá – đây chính là yếu huyệt của mọi sự trung thành.

Cái chìa khóa đơn giản nhất và dễ làm nhất mở ra cánh cửa tự do, tự do mà bấy lâu nay chúng ta lãng quên, là: mỗi người cùng tẩy chay dối trá. Mặc dù dối trá che giấu tất cả, mặc dù dối trá phủ lấy tất cả, nhưng tôi tuyệt không nhúng tay.

Làm vậy tức là mở một lối thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn hoang tưởng do chúng ta khoanh tay đứng nhìn mà ra. Cách đó vừa dễ làm nhất vừa tiêu diệt dối trá mau nhất. Vì rũ bỏ dối trá, tức là cắt đứt đường sống của nó. Dối trá giống như bệnh dịch, chỉ có thể sống bám vào một sinh vật.

Chúng ta không cần phải ám thị mình. Chúng ta chưa đủ già dặn để tiến vào các quảng trường mà gào lên sự thật hay biểu hiện tư tưởng của mình. Chưa tới lúc phải làm thế. Nguy hiểm nữa. Chỉ cần điều gì mình không nghĩ thì chúng ta từ chối đừng nói là được.

Đó là con đường của chúng ta, con đường dễ nhất ai cũng làm được, con đường đã chiếu cố sự hèn nhát thâm căn cố đế của chúng ta. Nó dễ hơn phương pháp công dân bất phục tùng của Gandhi xiển dương – dễ tới mức viết những lời này còn nguy hiểm hơn.

Con đường của chúng ta là không tự nguyện ủng hộ bất kì sự dối trá nào. Khi chúng ta đã biết bản chất của hư ngụy ở đâu, thì chúng ta mỗi người sẽ biết cách nhìn ra đâu là dối, đâu là thật.

Con đường của chúng ta là tránh xa chỗ thối nát. Nếu chúng ta đừng ghép đống xương tàn và lớp vảy khô của ý thức hệ lại với nhau, nếu chúng ta đừng mất công vá lại mớ giẻ rách, thì chúng ta sẽ ngạc nhiên thấy là sự dối trá sẽ hóa ra bất lực và tiêu ma nhanh chóng. Lúc đó, cái gì cần lột trần mới thực phơi ra trước cả và thiên hạ.

Vì thế, dù có dè dặt, mỗi chúng ta hãy lựa cho mình: hoặc là, cam tâm làm nô lệ cho hư ngụy – tất nhiên chúng ta nuôi dưỡng con cái mình trong tinh thần dối trá không phải vì đó là bản tính của chúng ta, mà chẳng qua là để kiếm ăn nuôi gia đình – hoặc là rũ sạch mọi sự dối trá làm một người lương thiện xứng đáng được con cái và người đồng thời kính trọng.

Và từ đó trở đi chúng ta sẽ:

• Bằng mọi cách không viết, kí, hay in một lời nào chúng ta cho là bóp méo sự thật;

• Không nói những lời như thế, dù là nói chuyện riêng hay nói trước đông người, tự ý mình hay theo ý người khác, dù làm công tác cỗ vũ, dạy học, giáo dục hay đóng trò trên sân khấu;

• Không mô tả, cổ vũ, hay truyền đi một ý tưởng nào chúng ta thấy rõ ràng là sai hay bóp méo sự thật, dù bằng hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, khoa học kỹ thuật hay âm nhạc;

• Không trích lời người khác nói hoặc viết mà không đặt lời trích vào ngữ cảnh, để lấy lòng ai đó, hay để lót đường cho mình, hay để thành công trong công việc nếu mình không hoàn toàn đồng ý với ý tưởng trích dẫn, hoặc nếu ý trích dẫn đó không phản ánh chân thực bản chất vấn đề;

• Không để cho mình bị ép phải dự những cuộc biểu dương hay hội họp nào trái với sở thích hay ý nguyện mình, không cầm hoặc giương lên những tiêu ngữ hay biểu ngữ nào mình không hoàn toàn chấp nhận;

• Không giơ tay biểu đồng tình cho một đề xuất mà ta không thành thật tán đồng, không bầu cho người mình cho không xứng đáng hay đáng ngờ về tài năng, dù bầu công khai hay bí mật;

• Không để cho mình bị lôi tới những cuộc họp mà mình đoán người ta sẽ bức mình thảo luận hoặc bóp méo một vấn đề;

• Lập tức bước ra khỏi những cuộc họp, hội nghị, thuyết trình, biểu diễn, chiếu phim nếu nghe thấy diễn giả nói láo, rêu rao những rác rưởi ý thức hệ, hoặc những lời tuyên truyền lố bịch;

• Không đóng góp hoặc mua những báo chí bóp méo thông tin hoặc giấu giếm những sự thật hiển nhiên.

Tất nhiên là chúng ta chưa liệt kê hết mọi biến thái hư ngụy cần phải liệt kê. Nhưng người nào thanh luyện mình sẽ nhờ lương tâm trong sạch mà phân biệt được chân ngụy.

Những người chọn con đường này ban đầu cuộc sống sẽ rất thay đổi. Có người bị mất việc. Những người trẻ muốn sống chân thật, thì những việc như thế này sẽ làm cho đời thanh xuân của họ ra phức tạp, vì khóa học bắt buộc nào cũng nhét toàn dối trá, không thể không chọn lọc.

Nhưng không có lối đi nào dễ dãi hơn cho người muốn làm người lương thiện. Ngày nào chúng ta cũng có người phải đối diện ít nhất là một trong những tình huống trên, cho dù là trong những ngành khoa học kĩ thuật vô thưởng vô phạt dễ tìm được chỗ nương náu nhất. Hoặc là chân thật, hoặc là hư ngụy: một đường đi tới tự do tinh thần, một đường đi tới nô lệ tinh thần. Còn những kẻ không đủ dũng khí bảo vệ linh hồn mình– các người chớ vin vào mấy quan điểm ‘tiến bộ’ của mình mà kiêu ngạo, chớ huyênh hoang mình là hàn lâm học sĩ, là nghệ sĩ nhân dân, là yếu nhân có nhiều công trạng, hay là đại tướng – các người hãy tự nói với mình: Mình thà ở lại đàn làm một thằng hèn. Sao cũng được, miễn no bụng ấm lưng thì thôi.

Lối phản kháng này tuy nhu nhược nhất trong mọi lối phản kháng cũng không phải là dễ. Tất nhiên là dễ hơn tự thiêu hay tuyệt thực: lửa sẽ không dìm thân anh, mắt anh không bị nung cho nổ ra, và gia đình anh sẽ không lúc nào thiếu cơm ăn nước uống.

Một dân tộc vĩ đại ở châu Âu, dân Tiệp Khắc, họ bị chúng ta phản bội và lừa dối, chẳng là họ đã cho chúng ta thấy nếu trong lồng ngực có một trái tim cao thượng thì tấm ngực mỏng manh kia có thể đứng lên chống lại xe thiết giáp đấy sao? [ii]

Anh bảo làm thế không dễ? Nhưng trong mọi cách thì cách đó là dễ nhất. Cách đó có thể nguy tới tánh mạng, nhưng muốn cứu linh hồn thì không còn cách nào khác. Phải, con đường đó không phải là con đường dễ đi. Nhưng mà có nhiều người, rất nhiều nữa là khác, năm này qua năm nọ đã theo đuổi lí tưởng ấy, chỉ vì họ lấy chân thật làm lẽ sống.

Cho nên anh không phải là người đầu tiên chọn đi đường này, anh chỉ gia nhập dòng người đã dấn thân vào đó. Nếu chúng ta nâng đỡ nhau và sát cánh nhau thì con đường này sẽ dễ đi và ngắn bớt lại. Nếu chúng ta đông tới hàng ngàn người thì bọn chúng sẽ không làm gì được chúng ta. Nếu chúng ta lên tới hàng vạn người thì đất nước này sẽ khoác bộ mặt mới đến mức chúng ta không còn nhận ra nữa. Nếu chúng ta khiếp nhược quá, thì đừng trách người ta đàn áp mình mãi.

Chính chúng ta đang tự mình đàn áp mình đấy. Lúc đó thì hãy khom lưng xuống nữa, hãy rên xiết nữa, và đợi tới ngày những người anh em của chúng ta, các nhà sinh học, tìm ra cách đọc được tư tưởng của chúng ta, một thứ tư tưởng vô giá trị và tuyệt vọng.

Và nếu thậm chí đã chọn con đường yên thân mà chúng ta vẫn rơi vào chỗ cùng khốn, thì chúng ta đúng là đồ bỏ đi, không còn cách gì cứu vớt được. Lúc đó, chúng ta đáng dành cho những lời khinh bỉ này của Pushkin: "Đồ súc sinh thì làm gì có tự do. Muôn đời di sản của nó chỉ là ách nặng và roi vọt.”

Aleksandr Solzhenitsyn

Người dịch: Thái Phục Nhĩ
________________________________

Chú thích:

[i] Nguyên văn là hộ khẩu Moscow

[ii] Mùa xuân năm 1968 dân Tiệp Khắc đứng lên đòi tự do, muốn li khai khỏi Liên Bang Soviet. Nhà cầm quyền Liên Bang Soviet cho thiết giáp vào Prague nghiến nát người biểu tình.

* * *

Tiểu sử văn hào Aleksandr Solzhenitsyn

Văn sĩ Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn

Văn sĩ Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn (1918 - 2008) được nhiều người coi là văn hào Nga lớn nhất thế kỉ 20. Sống, thành tài và thành danh trong Thời Đại Hắc Ám Mới – chủ nghĩa cộng sản, Solzhenitsyn viết những tác phẩm tả thật chế độ Liên Bang Soviet, và can đảm sống một cuộc đời của một chính nhân quân tử ông còn được nhiều người gọi là lương tâm của một thời đại.

Solzhenitsyn bắt đầu sự nghiệp viết văn của mình trong khi phục vụ cho Hồng Quân trong Đệ Nhị Thế Chiến. Ở trong đó, ông đã hoài nghi những giá trị luân lí của chế độ Stalin. Đệ Nhị Thế Chiến sắp chấp dứt, năm 1945, Solzhenitsyn bị bắt vì dám phê bình chính sách chiến tranh của Joseph Stalin. Ông bị khép vào tội tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa Soviet, bị áp giải về Moscow và xử tám năm lao động khổ sai trong trại lao động cưỡng bức. Trong trại, ông ghi chép và lưu lại nhiều tài liệu làm đề tài cho những tác phẩm sau này. Năm 1950, ông bị đưa vào Trại Giam Đặc Biệt dành cho tù nhân chính trị. Tuy việc chính là thợ nề, thợ mỏ, ông cũng dành thì giờ ghi chép. Những ghi chép của ông ở trại đặc biệt này là tài liệu cho cuốn One Day in the Life of Ivan Denisovich sau này.

Năm 1953, mãn án, ông bị đưa đi Kazakhstan giam lỏng. Trong thời kì giam lỏng này, ông bị ung thư suýt chết, và bắt đầu suy tư sâu sắc hơn về giá trị của cuộc đời, của tự do. Từ đây, ông quyết định giã từ chủ nghĩa cộng sản của Marx.

Khrushchev lên thay Stalin cai trị Liên Bang Soviet, nới lỏng bàn tay sắt và cho văn sĩ tự do ngôn luận. Nhờ vậy mà Solzhenitsyn được tha bổng năm 1956. Về lại Nga, ông ban ngày dạy học, ban đêm bí mật viết lách. Khrushchev đang chủ trương bài Stalin, cho phép ông xuất bản bộ One Day in the Life of Ivan Denisovich, năm 62. Bộ đó mô tả nhiều tội ác của chế độ Stalin trong các trại tù lao động cưỡng bức, là tác phẩm văn học thời Soviet viết về chủ đề chính trị mà tác giả lại là người không theo cộng sản. Tất nhiên là phải kiểm duyệt gắt gao và cắt bỏ nhiều. Bộ đó còn được đưa vào trường dạy cho học sinh. Nhưng thời vàng son đó không lâu; Solzhenitsyn chỉ xuất bản được thêm vài ba tác phẩm ngắn nữa thì Khrushchev thoái vị, và ông cũng bị treo bút. Từ đó trở đi, viết lách đối với ông là một sự cả gan, vì sợ mật thám KGB. Trong diễn văn nhận giải Nobel Văn Chương, ông viết rằng từ sau khi được thả lỏng cho tới 1961, ông tin là mình sẽ không bao giờ xuất bản được một dòng nào nữa, viết rồi cũng không dám đưa cho bạn bè và người thân đọc, vì sợ người ta biết. Mặc dù sau này có bạn bè làm trong ngành xuất bản giúp đỡ, tác phẩm của ông cũng không qua khỏi con mắt dò xét của Hội Nhà Văn. One Day in the Life of Ivan Denisovich là một trong những tác phẩm ít ỏi của ông được xuất bản tại Liên Bang Soviet.

Sau khi chính quyền Liên Bang Soviet siết chặt lại chính sách văn nghệ, Solzhenitsyn gần như bị treo bút. Bị mật thám KGB theo dõi, ông vẫn cặm cụi làm việc để viết cho xong tác phẩm lớn nhất của ông The Gulag Archipelago. Mật thám KGB cuối cùng cũng biết ông đang lén lút cưu mang những tác phẩm phê phán chế độ. Bản thảo bị cướp; năm 1969 Solzhenitsyn bị khai trừ khỏi Hội Nhà Văn. Ông hoảng sợ và tuyệt vọng. Trong cơn tuyệt vọng ấy, ông ngộ ra sự tự do tâm thức mà không công an mật hay nhà tù nào có thể cướp đi được của một người muốn xiển dương chân lí. Dần dần ông giải phóng mình khỏi cái bẫy của những vinh dự dối trá dành cho những nhà văn được chính quyền công nhận. Mặc dù toàn bộ tài liệu và ghi chép của ông bị tịch thu, ông vẫn tìm cách bí mật chuyển bản thảo The Gulag Archipelago (viết 1958–67) cho một người bạn cất giữ. Bộ đó đợi tới sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Liên Bang Soviet, ông mới có dịp công bố và xuất bản. Thật là một lịch sử li kì của một áng văn bất hủ.

The Gulag Archipelago tả trại lao động cưỡng bức dưới chế độ cộng sản Soviet, chủ yếu dành cho tù binh chiến tranh và tù nhân chính trị. Solzhenitsyn dùng lời chứng của nhiều tù nhân và công trình khảo cứu của ông về hệ thống trại tù này, truy lại nguồn gốc của nó từ thời cách mạng Bolsheviks. Nhờ nó mà độc giả biết được Lenin mà nhiều người cộng sản tôn sùng chính là tác giả của các quy trình tra vấn, vận chuyển tù binh, cách xử sự trong trại tù, và các phương pháp giam lỏng liên quan tới hệ thống tù khét tiếng này. Tác phẩm này nhanh chóng trở thành tác phẩm kinh điển của thế kỉ hai mươi, được dịch ra nhiều thứ tiếng, và đưa gulag vào thành một mục từ trong các từ điển của phương Tây.

Năm 1970, ông được trao giải Nobel Văn Chương, nhưng không sang Stockholm nhận thưởng được, vì ra đi tức là sẽ không còn ngày về lại quê hương. Năm 1974, khi đang lưu vong ở Tây Đức, người ta mới làm lễ trao giải riêng cho ông.

Ngày 12 tháng Hai 1974, Solzhenitsyn bị công an đột nhập vào nhà. KGB tìm thấy một phần bản thảo bộ The Gulag Archipelago. Ông bị tước quyền công dân Soviet và trục xuất sang Frankfurt, Tây Đức. Sau đó ông lưu vong ở nhiều nơi, Thụy Sĩ, Mĩ, cho tới khi chế độ Liên Bang Soviet sụp đổ, ông cùng vợ trở về Nga và phục hồi quyền công dân.

Thái Phục Nhĩ biên soạn

Theo Dân Làm Báo
Read more…

Chủ nghĩa hiến pháp và những yếu tố cấu thành

02:58 |
Nguyễn Đăng Dung

Khái niệm

Chủ nghĩa Hiến pháp trong tiếng Anh là Constitutionalism; có người dịch là chủ nghĩa hợp hiến, có người dịch là “chủ nghĩa hiến pháp”, có người dịch là “chủ nghĩa lập hiến”. Theo quan điểm của tôi, dịch là “chủ nghĩa hiến pháp” đúng hơn, bao quát hơn.

Nội hàm của khái niệm “chủ nghĩa” đang là một trong những vấn đề rất lớn trong lý luận của khoa học pháp lý hiện nay ở Việt Nam. Từ điển Bách khoa định nghĩa: Chủ nghĩa là học thuyết hay một hệ thống lý luận về chính trị, triết học, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật thể hiện bằng quan niệm, quan điểm, lập trường, khuynh hướng, phương pháp luận, phương pháp sáng tác… do một người hoặc một tập thể các nhóm người đề xướng (1). Từ điển Chính quyền và Chính trị Hoa Kỳ của Jay M. Shafritz ghi: “Chủ nghĩa Hiến pháp là là sự phát triển của những tư tưởng hợp hiến qua nhiều thời đại. Trong khi lý luận cổ điển về hiến pháp thường phải quay về với những tư tưởng của Aristotle, thì của lý luận hiến pháp hiện đại lại xuất phát từ những tư tưởng khế ước xã hội thế kỷ 17. Những biểu hiện đặc trưng của hiến pháp là khái niệm về một Chính phủ hữu hạn mà thẩm quyền tối hậu của nó luôn luôn phải tuân thủ sự đồng ý của những người bị cai trị”.

Chủ nghĩa hiến pháp hay pháp quyền có nghĩa là quyền lực của lãnh đạo và các cơ quan Chính phủ bị giới hạn, và những giới hạn đó có thể được thực hiện thông qua những quy trình định sẵn. Là một bộ phận của học thuyết nhà nước pháp quyền, Hiến pháp quy định một chính quyền hợp pháp có trách nhiệm trong việc bảo vệ lợi ích của toàn thể cộng đồng và bảo vệ quyền của từng cá nhân.

Chính phủ hiến pháp bắt nguồn từ những ý tưởng chính trị tự do ở Tây Âu và Hoa Kỳ là hình thức bảo vệ quyền cá nhân đối với sinh mạng và tài sản, tự do tôn giáo và ngôn luận. Để bảo đảm những quyền này, những người soạn thảo hiến pháp đã nhấn mạnh kiểm soát đối với quyền lực của mỗi ngành trong Chính phủ, bình đẳng trước pháp luật, tòa án công bằng và tách biệt nhà thờ khỏi nhà nước. Những đại biểu điển hình của truyền thống này là nhà thơ John Milton, luật gia Edward Coke và William Blackstone, các chính khách như Thomas Jefferson và James Madison, và những triết gia như Thomas Hobbes, John Locke, Adam Smith, Baron de Montesquieu, John Stuart Mill.

Chính phủ hợp hiến hiện đại gắn bó chặt chẽ với kinh tế và quyền lực của túi tiền, do ý tưởng cho rằng, những ai đóng thuế cho Chính phủ hoạt động phải được đại diện trong Chính phủ đó. Nguyên tắc cung cấp kinh tế và giải quyết khiếu nại đi đôi với nhau là yếu tố mấu chốt của Chính phủ hợp hiến hiện đại; sự phát triển của các thể chế đại diện và tinh thần đoàn kết dân tộc đối lập với sự tuân thủ tượng trưng đối với nhà Vua và tòa án, đã hạn chế có hiệu quả trên thực tế quyền lực của nhà Vua.

Tuy nhiên, những điều khoản của Dự luật về các quyền năm 1689 cho thấy, Cách mạng Anh không chỉ nhằm bảo vệ quyền về tài sản (theo nghĩa hẹp) mà còn thiết lập những quyền tự do mà những người theo chủ nghĩa tự do tin là rất cần thiết đối với nhân phẩm và giá trị đạo lý của con người. “Những quyền của con người” được nêu ra trong Dự luật về Quyền của Anh dần được công bố cả bên ngoài nước Anh, đặc biệt trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền của Pháp năm 1789. Thế kỷ 18 đã chứng kiến sự xuất hiện của Chính phủ hợp hiến ở Hoa Kỳ và Pháp, và thế kỷ 19 có sự mở rộng của Chính phủ này với mức độ thành công khác nhau ở Đức, Italia và những nước phương Tây khác.

Nói tóm lại, từ những yếu tố cấu thành của chủ nghĩa hiến pháp nói ở phần trên, chúng ta có thể kết luận: hiến pháp là một phần quan trọng của nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền là một nhà nước hợp hiến, chính quyền nhà nước được thành lập thông qua những cuộc bầu cử chân chính và có sự giới hạn quyền lực nhà nước, với mục tiêu bảo vệ quyền con người.
Trật tự hợp hiến của xã hội Hoa Kỳ được xây dựng trên nền tảng sự nhất trí của công dân tự do và có lý trí, thể hiện trong biểu tượng “khế ước xã hội” làm cơ sở để đạt được những mục đích nhất định. Thuyết “khế ước xã hội” cực thịnh ở châu Âu thế kỷ 17 và 18, gắn liền với tên tuổi nhà triết học Anh Thomas Hobbes, John Locke và nhà triết học Pháp Jean - Jacques Rousseau. Những nhà tư tưởng này đã giải thích nghĩa vụ chính trị của các cá nhân đối với cộng đồng trên cơ sở lợi ích và lý trí, và họ cũng nhận thức rõ những lợi thế của xã hội dân sự nơi mà cá nhân có cả quyền và nghĩa vụ so với những bất lợi của “nhà nước tự nhiên”, một giả thuyết về sự vắng mặt hoàn toàn của quyền lực Chính phủ. Ý tưởng “khế ước xã hội” phản ánh nhận thức cơ bản rằng, một cộng đồng chứ không chỉ là một Chính phủ khả thi phải được thiết lập nếu có một Chính phủ tự do và nếu con người được bảo vệ chống lại sự tấn công của những ham muốn đồng nghĩa với tình trạng hỗn loạn, bạo ngược và nổi loạn chống lại trât tự hợp lý sẵn có. Trong tạp chí “Người theo chủ nghĩa liên bang” (số 2), John Jay lập luận rằng, cá nhân có thể từ bỏ một số quyền tự nhiên cho xã hội nếu Chính phủ có quyền lực cần thiết để bảo vệ lợi ích chung. Kết quả là sự tham gia của công dân vào nền dân chủ hợp hiến đi kèm với trách nhiệm tuân thủ luật pháp và các quyết định của cộng đồng trong các vấn đề chung, thậm chí khi cá nhân bất đồng gay gắt. Aristotle và Spinoza đều cho rằng, cả “kẻ súc sinh” tức là tội phạm vô Chính phủ, và “kẻ bề trên” tức sẽ trở thành nhà độc tài, đều sử dụng luật pháp theo ý mình và phải bị khuất phục hay tẩy chay khỏi xã hội. Hobbes, Locke và những nhà sáng lập nước Mỹ đều đồng ý như vậy. Đây là điều kiện tiên quyết của xã hội dân sự. Luật pháp và chính sách của Chính phủ hợp hiến không chỉ bị giới hạn về phạm vi mà còn dựa trên sự nhất trí nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân nói chung, và từng cá nhân nói riêng, trong xã hội đó.

Những nhà cách mạng và soạn thảo hiến pháp Mỹ đều coi đây là di sản vì lịch sử Mỹ gắn liền với Tuyên ngôn Độc lập 1776, Điều khoản Liên bang 1781, sự kết thúc của Chiến tranh Cách mạng 1783, soạn thảo Hiến pháp 1787 và thông qua Dự luật về các quyền 1791.

Những bộ phận cấu thành 

Chủ nghĩa hiến pháp đòi hỏi phải có Hiến pháp được một Hội đồng lập hiến hoặc Quốc hội thông qua theo một thủ tục đặc biệt khác với làm luật.

Hiến pháp là bản văn luật có hiệu lực tối cao đối với toàn bộ việc tổ chức và hoạt động của nhà nước. Hiến pháp có thể được một Hội đồng hiến pháp thông qua, gọi là Quốc hội lập hiến. Hoặc có thể do Quốc hội - lập pháp thông qua nhưng phải có sự phúc quyết của tầng lớp nhân dân. Trong trường hợp không có Hiến pháp thành văn thì cũng phải có Hiến pháp bất thành văn như kiểu của Anh quốc, nghĩa là vẫn có những đạo luật do Quốc hội lập pháp thông qua nhưng rất ít khi bị thay đổi.

Một quyết định sơ bộ khác là về việc thay đổi hay sửa đổi hiến pháp sau khi thông qua. Hiến pháp cần phản ánh những giá trị sâu sắc nhất của xã hội và những quy tắc nền cơ bản của quy trình dân chủ. Những giá trị và quy tắc này cần phải ổn định. Vì lý do này nên tốt nhất là rà soát lại những khía cạnh cấu trúc của hiến pháp sau một thời gian nhất định. Có một cách là cứ mười hay hai mươi năm một lần cần lập một ủy ban chuyên gia xem xét có cần phải thay đổi về mặt cấu trúc hay không. Việc này có thể rất có ích sau mười năm đầu tiên, khi ít nhất cũng xuất hiện một số vấn đề nảy sinh từ hiến pháp.

Chủ nghĩa hiến pháp gắn liền với mục tiêu hạn chế quyền lực của nhà nước nên việc tổ chức nhà nước phải theo nguyên tắc phân quyền.

Minh họa hệ thống tổng thống của Mỹ
Đây là một trong những yếu tố căn bản của chủ nghĩa hiến pháp. Một vấn đề đầu tiên là nên xây dựng hệ thống tổng thống hay nghị viện. Dù mỗi hệ thống có nhiều kiểu khác nhau nhưng đều quy về hai nhóm. Hệ thống tổng thống mà nổi tiếng nhất là của Hoa Kỳ thường liên quan đến việc bầu ra trực tiếp, hay như ở Hoa Kỳ là gián tiếp, trong một số năm nhất định một người đứng đầu ngành hành pháp. Theo mô hình của Hoa Kỳ, tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu Chính phủ, đề ra cả chính sách đối nội, đối ngoại và bổ nhiệm bộ trưởng để triển khai những chính sách này. Các bộ trưởng thường phải được cơ quan lập pháp thông qua, nhưng rốt cuộc lại chịu sự chỉ đạo và kiểm soát của tổng thống.

Cơ quan lập pháp được bầu ra độc lập cũng trong một số năm nhất định. Cả tổng thống và cơ quan lập pháp thường không chịu sự bãi nhiệm lẫn nhau. Điều này tạo ra một hệ thống hợp pháp kép và quyền lực được phân chia rõ ràng.

Hệ thống tổng thống tạo nên sự ổn định và dưới quyền của một tổng thống mạnh có thể tạo nên một bộ máy lãnh đạo mạnh. Tuy nhiên, sự ổn định này có thể trở nên cứng nhắc vì một vị tổng thống không được ủng hộ hay không có năng lực không thể bị cách chức dễ dàng cho đến khi hết nhiệm kỳ. Ngoài ra, có thể dẫn đến sự bế tắc về lập pháp nếu cơ quan lập pháp bị kiểm soát bởi một đảng chính trị khác. Nếu sự chia rẽ này tiếp diễn thì Chính phủ sẽ không thể hoạt động có hiệu quả trong nhiều năm.

Trong hệ thống nghị viện, Quốc hội là nguồn hợp pháp hóa bầu cử duy nhất. Không có sự phân quyền giữa cơ quan lập pháp và hành pháp – cơ quan tư pháp dĩ nhiên là độc lập nhưng đứng ngoài phương diện lập pháp – vì ngành hành pháp, thường được gọi là Chính phủ và đứng đầu là thủ tướng, được chọn ra bởi đảng có đa số ghế trong Quốc hội hoặc bởi một liên minh chiếm đa số các nhà lập pháp. Nguyên thủ quốc gia là tổng thống hầu như không có quyền lực và thường được Quốc hội bầu ra. Thủ tướng và Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và có thể bị Quốc hội bãi nhiệm. Điều linh hoạt là có thể tổ chức bầu cử vào bất kỳ lúc nào. Do không có sự phân chia quyền lực chính thức nào giữa lập pháp và hành pháp nên khó có thể xảy ra bế tắc vì một Chính phủ hay thủ tướng mất lòng tin của Quốc hội có thể bị Quốc hội bãi nhiệm.

Tuy nhiên, hệ thống nghị viện có thể gây ra sự thay đổi thường xuyên các Chính phủ và rất bất ổn định. Hệ thống này cũng có thể gây ra những thay đổi lớn đột ngột trong chính sách khi một đảng đối lập giành đa số và có thể tạo ra một kiểu mất ổn định mới.

Một vấn đề cũng phải được quyết định là nên có một cơ quan lập pháp độc viện (một viện) hay lưỡng viện (thượng viện và hạ viện). Nếu một quốc gia sẽ trở thành quốc gia liên bang với những bộ phận tương đối độc lập như Hoa Kỳ hay Đức thì nên có một cơ quan lập pháp thứ hai (thường là thượng viện như Thượng viện Hoa Kỳ) đại diện cho lợi ích của các bộ phận. Viện thứ hai này đôi khi chỉ được đưa ra một số quyết định như về thuế, bổ nhiệm tòa án hay các bổ nhiệm khác, hay các vấn đề trực tiếp tác động đến bản thân các bộ phận.

Việc quyết định nên có một viện thứ hai lại làm nảy sinh thêm một vấn đề: nhà nước sẽ được tập trung hóa đến mức nào? Bao nhiêu quyền lực và quyền tự chủ cần được phân cho các cấp chính quyền thấp hơn như khu vực hay các đơn vị quốc gia? Bao nhiêu quyền độc lập cần được dành cho các thành phố, thị trấn và làng xã? Có rất nhiều khả năng, từ những đơn vị rất tự chủ cho đến sự kiểm soát hoàn toàn của trung ương. Rất hợp lý khi phân nhiều quyền tự chủ cho các đơn vị khu vực và địa phương vì các đơn vị này có thể quản lý hiệu quả và vì chính quyền trung ương thường không am hiểu về tình hình và nhu cầu địa phương. Hơn nữa, sự tham gia vào chính quyền địa phương giúp người dân có cơ hội tham gia trực tiếp vào hoạch định nhiều chính sách quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, và có thể là một bộ phận quan trọng của sự tự quản lý dân chủ.

Tư pháp độc lập 

Thực tế đã chứng minh nhu cầu cần có một cơ quan tư pháp độc lập có thể ngăn không cho các ngành khác vượt quá giới hạn của hiến pháp, và đặc biệt khi liên quan đến những quyền con người cơ bản. Hệ thống tư pháp thường xuyên như ở Hoa Kỳ hoặc một tòa án đặc biệt, một tòa án hiến pháp, được quyền quyết định về những vấn đề liên quan đến việc vi phạm hiến pháp. Trong trường hợp đầu, quyền lực cuối cùng là tòa án tối cao gồm các thẩm phán tòa án thường trực được bổ nhiệm suốt đời và thường giải quyết các vụ phúc thẩm của các tòa cấp dưới; họ quyết định về những vấn đề hiến pháp chỉ khi cần thiết để giải quyết tranh chấp liên quan. Hầu hết các nước dân chủ hiện nay thường thiết lập các tòa hiến pháp.

Dù chọn lựa hệ thống nào thì hiến pháp cũng phải quy định rõ quyền của tòa án trong việc bãi bỏ luật và các quy định, đạo luật không phù hợp với hiến pháp. Nếu có tòa án hiến pháp đặc biệt thì không nên quy định cho nó những trách nhiệm không liên quan.

Do các phán quyết của tòa thường nhạy cảm về mặt chính trị nên sự độc lập và không thiên vị của chúng phải được đảm bảo bởi hiến pháp. Cơ quan tư pháp phải là một nhánh độc lập của Chính phủ và không dưới quyền của Bộ Tư pháp. Cơ quan này cần kiểm soát các vấn đề về tài chính và hành chính của mình, không dính líu đến cơ quan hành pháp, dù nhất thiết phải chịu sự kiểm soát của cơ quan lập pháp về ngân sách.

Hiến pháp cũng phải quy định việc các thẩm phán tòa án cấp thấp hơn áp dụng hiến pháp trong quá trình phán quyết của họ. ở nhiều nền dân chủ mới, những thẩm phán này thường phớt lờ những vấn đề về hiến pháp khi đưa ra phán quyết.

Bảo vệ nhân quyền

Thực tiễn hiện nay là hiến pháp phải bảo vệ nhân quyền và tòa án hiến pháp đặc biệt phải đóng vai trò chính trong việc bảo vệ đó. Lời Nói đầu của Hiến pháp Hoa Kỳ đề cập đến một trật tự chính trị mới ở Hoa Kỳ dựa trên những nguyên tắc sau: thiết lập một liên minh hoàn hảo hơn, cung cấp sự bảo vệ chung, thiết lập công lý, đảm bảo quyền tự do cho thế hệ hiện nay và mai sau. Thậm chí trước đó, Tuyên ngôn Độc lập cũng đã nói đến “quyền bất khả nhân nhượng” như là quyền tự nhiên của con người và Chính phủ không thể tước đoạt những quyền đó. Việc làm thế nào để bảo đảm tốt nhất công lý và quyền tự do (hồi đó cũng như bây giờ) đã gây ra những bất đồng gay gắt giữa các đảng. Khi được sơ thảo và trình cho các bang thông qua, Hiến pháp không nói đến quyền cá nhân. Lời giải thích cho sự bất thường này, các nhà soạn thảo cho rằng, quyền lực của Chính phủ quốc gia mới thành lập bị giới hạn cẩn thận đến mức các quyền cá nhân không cần có biện pháp bảo vệ. Hơn nữa, những người theo chủ nghĩa liên bang khác lập luận rằng, liệt kê thêm các quyền sẽ kéo theo thêm trách nhiệm pháp lý, tức là những quyền được coi là cơ bản nhưng chưa định rõ sẽ dễ bị Chính phủ xâm phạm.

Dù những người phi chủ nghĩa liên bang bị đánh bại trong cuộc chiến soạn thảo Hiến pháp 1787, nhưng họ có thể buộc đối phương phải nhượng bộ. Lo sợ trước quyền lực của Chính phủ trung ương mới, họ đòi phải đưa một loạt các biện pháp bảo vệ quyền cá nhân cụ thể vào Hiến pháp. Họ cũng được các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa liên bang hứa tại một số hội nghị bang sẽ ủng hộ thông qua những sửa đổi phù hợp trong Hiến pháp. Nếu không được đảm bảo thông qua dự luật các quyền, nhiều bang dọa không phê chuẩn Hiến pháp. Những người theo chủ nghĩa liên bang giữ lời hứa của mình. Năm 1789, Quốc hội đầu tiên của Hoa Kỳ đã thông qua 10 tu chính Hiến pháp đầu tiên. Năm 1791, một số bang được yêu cầu đã phê chuẩn Dự luật về quyền tạo nên 10 tu chính này. Hơn nữa, Tu chính số 9 bảo vệ các quyền cơ bản không được đề cập cụ thể trong Hiến pháp và làm yên lòng những người theo chủ nghĩa liên bang vì họ sợ rằng đơn cử một quyền nào cần bảo vệ sẽ phương hại đến sự bảo vệ tất cả những quyền khác không được xác định tương tự. Hạn chế sự vi phạm của các bang đối với các quyền tự do dân sự là chủ đề của tu chính số 13 (1865), 14 (1868), và 15 (1870); cái gọi là Tu chính án tái thiết được thông qua sau Nội chiến và nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ.

Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã đi tiên phong về mặt này, nhưng các tòa án trên thế giới giờ đây mới công nhận trách nhiệm này. Khi có vấn đề liên quan đến các hiệp định nhân quyền quốc tế được các Chính phủ thông qua thì các thẩm phán tự coi mình có trách nhiệm tuân thủ những hiệp ước này. Họ thường tham khảo tòa án các nước khác về những vấn đề chung. Kết quả là sự ra đời một bộ luật hiến pháp quốc tế về nhân quyền.

Mọi hiến pháp mới hiện nay đều có tuyên bố về các quyền con người cơ bản. Điều này vẫn chưa đủ. Hiến pháp phải thành lập các thể chế bảo đảm thực thi những quyền đó. Hiến pháp phải quy định cụ thể rằng, những ai kiện cáo quyền của họ bị xâm hại đều được tiếp cận với tòa án, và nếu một vụ xâm hại đã xảy ra thì nạn nhân có thể có được giải pháp phù hợp cho vụ đó. Nhiều nước đã nhận ra rằng, một viên thanh tra (thường là một điều tra viên hay người hòa giải khiếu kiện) là rất cần thiết trong vấn đề này. Một phòng đặc biệt trong văn phòng công tố viên nhà nước cũng có thể rất hữu ích.

- Điều đặc biệt quan trọng đối với chủ nghĩa hiến pháp là nhà nước phải tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc minh bạch, công dân có thể biết được việc Chính phủ có thực hiện đúng đắn nhiệm vụ của mình và hành động vì lợi ích của nhân dân hay không. Hiến pháp cần có những quy định cho phép công dân tiếp cận nhanh chóng và ít tốn kém tất cả các tài liệu, văn bản của Chính phủ, ngoại trừ việc công bố những tài liệu có thể đe dọa đến an ninh quốc gia, tính riêng tư cá nhân, thực thi luật hay một số lợi ích quốc gia quan trọng khác...

Nói tóm lại, từ những yếu tố cấu thành của chủ nghĩa hiến pháp nói ở phần trên, chúng ta có thể kết luận: hiến pháp là một phần quan trọng của nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền là một nhà nước hợp hiến, chính quyền nhà nước được thành lập thông qua những cuộc bầu cử chân chính và có sự giới hạn quyền lực nhà nước, với mục tiêu bảo vệ quyền con người.
PGS, TS. Nguyễn Đăng Dung, Đại học Quốc gia Hà Nội.

(Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 139-140, ngày 20/01/2009)
_________________

(1) Xem: Từ điển Bách khoa Việt Nam. T1. NXB Trung tâm từ điển Bách khoa Việt Nam. Hà Nội, 1995.

Theo CafeLuat.com
Read more…

Lẩu dư luận

06:35 |
Thùy Linh

Mấy hôm nay giới bloggers có vẻ hồ hởi đón nhận diễn đàn sẽ mở ra nay mai giữa họ và các “dư luận viên” của chính quyền đang thành lập. Dòng sông cuộc sống mải miết trôi, càng ngày bên bồi, bên lở khiến hai nhóm người đứng hai bên bờ càng xa cách. Khó tắm chung dòng và khó nghe nổi lời của nhau là sự thật bấy lâu nay giữa hai phía. Đáng lẽ diễn đàn tranh luận các quan điểm đối ngược phải có từ lâu rồi.

900 dư luận viên đã sẵn sàng
Trước hết cần thống nhất với nhau đây thực sự là các cuộc tranh luận, chia sẻ về các quan điểm, cách nhìn, những ước muốn, hy vọng về sự đổi thay tốt đẹp cho đất nước. Hết sức tránh những từ “đấu tranh”; “phê phán”…Bởi người ta chỉ đấu tranh, phê phán với những cái xấu xa, tồi tệ. Hơn nữa hiện giờ thế giới hãn hữu mới dùng đến phương pháp bạo lực, nghiêm khắc khi muốn thay đổi cái xấu. Thay vì đấu tranh, phê phán, lật mặt cái xấu, kẻ xấu, người ta cố gắng khơi gợi điều tốt đẹp trong con người, cuộc sống để thay thế dần sự bất cập, tồi tệ.

Một điều kiện tiên quyết để có thể tranh luận, chia sẻ các quan điểm giữa hai (hay nhiều) phía, tạm gọi là lề trái, lề phải, trung dung có hiệu quả là, không nên bắt đầu bằng các kết luận, cũng như sự dè chừng cảnh giác như với “thế lực thù địch” nào đó. Khi bắt đầu bằng những kết luận thì cần gì, còn gì để tranh luận, chia sẻ nữa? Điều này phía “lề phải” hay mắc phải, hay áp đặt cho “lề trái” nhân danh chính quyền. Ví dụ chưa bước vào các tranh luận thì các nhà quản lý đã bắt đầu bằng sự răn đe, rào chắn như: đấu tranh với các luận điểm sai trái; ngăn ngừa các hành vi lợi dụng để xuyên tạc chính sách, đường lối của đảng; kịp thời sẽ ngăn chặn kẻ xấu kích động nhân dân; nêu cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch; xử lý kịp thời những hành động tán phát tài liệu xấu, mạo danh, nặc danh để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân…

Theo ông Hồ Quang Lợi, trưởng ban Tuyên giáo thành ủy Hà Nội tuyên bố thì thành phố đã chuẩn bị được 900 dư luận viên, các tổ phóng viên bấm nút, phản ứng nhanh và “nhóm chuyên gia” đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến trên Internet. Đến nay đã xây dựng được 19 trang tin điện tử, hơn 400 tài khoản trên mạng…Giới bloggers rất mong muốn được tranh luận với những ai có chính danh chứ không thể nói với người đối thoại mà không chịu trách nhiệm lời nói của mình. Nếu 400 tài khoản trên internet chỉ để làm các “còm sĩ” ảo như lâu nay thì đương nhiên sẽ có các “còm sĩ” ảo phía bên kia tiếp chiêu mà chính quyền không được phép bắt họ khai báo tên thật. Tranh luận phải công bằng từ việc nhỏ đó. Không nên dùng ngụy danh để tranh luận với chính danh.

Việc nữa thiết tưởng không cần nói nhưng vì đã và đang lan tràn trên mạng khiến nhiều người khó chịu, nhất là “còm sĩ” của lề phải. Các “còm sĩ” này khi lên tiếng bênh vực chính quyền, cạn lý thường chửi tục và nói tục không kiêng dè. Nếu có thể bảo vệ các quan điểm của mình bằng chửi tục, thóa mạ lẫn nhau thì không cần tranh luận, chỉ cần mở cuộc thi chửi.

Nếu có thể bảo vệ các quan điểm của
mình bằng chửi tục, thóa mạ lẫn nhau
thì không cần tranh luận, chỉ cần mở
cuộc thi chửi
Trong tranh luận tránh hướng đến việc thóa mạ, bới móc đời tư cá nhân, nhất là người đang tranh luận với mình. Trừ khi những vấn đề cá nhân của ai đó ảnh hưởng đến việc chung, thậm chí vận mệnh đất nước. Cần loại bỏ sự thành kiến về hành vi, sai lầm trong quá khứ của cá nhân khi mọi việc đã kết thúc, đã trả giá…Chắc chắn dân oan mất đất có quyền được biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, chứ không thể nói rằng họ lợi dụng việc biểu tình để chống chế độ. Cũng như thế, một blogger có thể là tù hình sự trước đây, hoàn toàn có thể là chính danh tử tế, đàng hoàng đối thoại với “dư luận viên” của chính quyền mà không bị bới móc chuyện cũ ra như một bằng chứng rằng anh ta là người không đủ tư cách tranh luận, phản biện.

Đã chấp nhận tranh luận cởi mở thì không nên giới hạn vấn đề và vùng “nhạy cảm” bắt buộc phải tránh né, không được đề cập. Càng nhạy cảm càng nên tranh luận minh bạch để tiệm cận đến gần sự thật nhất.

Bởi ai cũng hiểu, tranh luận là để tìm ra sự thật. Sẽ có người nói sự thật của ai người nấy biết, vì đứng ở góc nào sẽ nhìn sự vật bắt sáng ở góc đó. Đúng vậy, thế gian không có bản chất riêng của nó. Nó được xác quyết do tâm trí của con người. Con người càng ít vô minh thì thế gian càng sáng tỏ với họ, bằng không sẽ chỉ nhận những sai lầm bởi những ham muốn cuồng dại. Mà muốn ít vô minh thì rất cần dẹp bớt tham-sân-si.

Không lẽ sẽ là những cuộc tranh luận bất tận khi thế gian lệ thuộc vào sự tiếp nhận của con người? Và sẽ là thất bại thảm hại nếu kết quả các cuộc tranh luận khi “lề trái” bị qui kết như sự dè chừng, răn đe, cảnh giác ban đầu đưa ra: luận điệu sai trái của các thế lực thù địch; tán phát tài liệu xấu, xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân…v.v.vv…

Có một điều chắc chắn, sự thật nào gần với lẽ phải nhất thì sẽ được mọi người đồng tình nhiều nhất. Nhưng lại có người căn vặn, thế nào là lẽ phải? Bởi những gì người ta nghĩ về các vấn đề của thế gian đều bị chi phối của dục vọng người đó. Cho nên lẽ phải chắc chắn sẽ phản chiếu rất ít (hoặc không còn) lòng tham, sự ích kỉ của con người. Nếu ai suy nghĩ, hành động vì lợi ích của người khác, vì sự phát triển chung, vì thiện tâm, chí thành thì chắc chắn đó là lẽ phải, là sự thật.

Và sẽ là thất bại thảm hại nếu kết quả
các cuộc tranh luận khi “lề trái” bị
qui kết như sự dè chừng, răn đe, cảnh
giác ban đầu đưa ra: luận điệu sai trái
của các thế lực thù địch; tán phát tài
liệu xấu, xuyên tạc, công kích, chống
phá Đảng, Nhà nước và nhân dân…
900 dư luận viên (có thể sẽ nhiều hơn) nên bắt đầu thu thập lý lẽ biện minh cho chính thể có nạn tham nhũng gần như đứng đầu thế giới, thay vì tìm cách “chiến đấu, “phê phán” các luận điệu bị cho là thế lực thù địch chống phá…Vì chính nạn tham nhũng, độc tài đã tạo ra một thế gian bị méo mó, sai lạc do lòng tham của con người. Có một câu chuyện thế này…

Ngày xưa có một vị vua anh minh, cai trị thần dân bằng sự sáng suốt của mình. Vương quốc vì thế rất thịnh vượng, bình an. Nhà vua treo giải thưởng cho những ai đưa ra những lời dạy quí giá. Sự thành tâm của nhà vua được thần thánh chú ý, nhưng vẫn muốn thử thách nhà vua. Một vị thần biến thành quỉ sứ xin yến kiến nhà vua và hứa cho nhà vua lời khuyên quí giá. Nhà vua rất vui mừng nên đón tiếp quỉ sứ ân cần. Đầu tiên quỉ sứ đòi ăn thịt người. Thái tử hiến thân, rồi đến hoàng hậu, nhưng quỉ sứ vẫn còn muốn ăn thịt nhà vua. Trước khi nộp mạng cho quỉ, nhà vua đề nghị nói cho biết lời dạy kia. Vị thần nói: “Đau khổ và sợ hãi bắt nguồn từ nhục dục. Những ai đã diệt dục thì không còn sợ hãi hay đau khổ”. Và vị thần trở lại hình dạng thật của mình. Thái tử, hoàng hậu cũng sống trở lại như cũ…

Nếu người cai trị thế gian tuân thủ nguyên tắc cai trị bản thân mình trước hết, giảm thiểu tối đa dục vọng, lòng tham thì dân chúng hà cớ gì không hạnh phúc, noi gương?

Nhân gian lại dạy rằng, có 7 lời dạy đưa đất nước đến thịnh vượng:
  • Thứ 1, dân chúng phải thường xuyên tập hợp bàn chuyện chính sự và bàn chuyện quốc phòng.
  • Thứ 2, dân chúng trong mọi giai tầng xã hội nên họp lại, bàn bạc chuyện quốc gia.
  • Thứ 3, dân chúng nên kính trọng tập quán lâu đời và không nên thay đổi tập quán này một cách phi lý. Dân chúng nên tuân thủ qui định nghi lễ và duy trì công lý.
  • Thứ 4, dân chúng phải nhận biết sự khác nhau của giới tính và thâm niên, giữ vững sự thuần khiết của gia đình và công cộng.
  • Thứ 5, dân chúng phải hiếu thảo với cha mẹ và trung thực với thầy giáo, các bậc cao niên.
  • Thứ 6, dân chúng nên kính trọng đền thờ tổ tiên và duy trì lễ nghi hàng năm.
  • Thứ 7, dân chúng phải coi trọng luân thường đạo lý, kính trọng cách hành xử có đức hạnh, lắng nghe những bậc thầy đáng kính.
Tạo cho dân chúng thói quen quan tâm vận mệnh quốc gia khi họ được tự do thể hiện quan điểm, tư tưởng của mình không chút sợ hãi.

Liệu sắp tới đây các cuộc tranh luận (hay như ông Hồ Quang Lợi gọi là đấu tranh trực diện, tham gia bút chiến) trên internet có được xem mở màn cho sự lên tiếng, thể hiện đa nguyên về tư tưởng mà nhiều người mong mỏi đã lâu?

Liệu kết quả qua các cuộc tranh luận có giúp phá vỡ nhiều bức tường bưng bít những sự thật cần bày tỏ? Bởi nếu không làm được việc này thì việc chính quyền lập nên các trang web, đào tạo các dư luận viên, các chuyên gia tham chiến chỉ là cách lùa “cua vào giỏ” để dễ lôi từng con ra vặt càng, hoặc cho vào cối giã nát theo ý muốn của chính quyền khi cần thiết?

Nhưng dù thế nào thì nhu cầu được bày tỏ đã tới lúc khó kìm nén hơn được nữa…Cho nên món “lẩu dư luận” dù chính quyền muốn định hướng gia vị thì từng người vẫn sẽ gia giảm theo khẩu vị của họ. Chỉ có lẽ phải, sự thật thì dù dư luận ngang tắt ra sao nó vẫn sẽ bất diệt.

Theo blog Hãy cùng tôi ghé thăm trái đất này

Theo buudoan.com
Read more…