Cảm nhân một bài thơ tình hay của Phạm Ngọc Thái

03:57 |

ANH VẪN Ở BÊN HỒ TÂY

Tình để lại vết thương không lành được
Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian
Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan.

Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt
Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết
Tình thơ ngây... tình sao mãi thơ ngây…

Nhớ buổi đón em cổng trường sư phạm
Đôi mắt từ xa đã nhận ra người
Tình yêu có cái nhìn trong linh cảm
Giờ ở đâu, người con gái xa xôi?

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại
Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi
Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi...

2012 - trích tập "Hồ Xuân Hương tái lai"
Phạm Ngọc Thái


"Anh vẫn ở bên hồ Tây" là bản tình ca viết về mối tình của nhà thơ với một cô nữ sinh sư phạm, dù mối tình đó đã trở thành dĩ vãng:

Nhớ buổi đón em cổng trường sư phạm
Đôi mắt từ xa đã nhận ra người
Tình yêu có cái nhìn trong linh cảm 

Người ta thường nói tình yêu có giác quan thứ sáu, bởi vậy nhìn thấy hình bóng người yêu từ xa đã nhận đã nhận ra ngay, cũng là điều dễ hiểu. Thế mà:

Giờ ở đâu, người con gái xa xôi?

Anh thổn thức vọng gọi em xưa trong nỗi vắng, cô đơn! Tôi đã đọc nhiều thơ Phạm Ngọc Thái, không ít bài anh đã nhắc đến hình ảnh người nữ sinh này, bài nào cũng da diết, nhớ thương. Liệu đây có phải cũng chính là cô sinh nữ trường Sư phạm Ngoại ngữ trong bài thơ Em Về Biển của tập "Rung động trái tim"?... mà ở tựa đề của bài anh có ghi:

Nhà thơ Phạm Ngọc Thái - Kỉ niệm K.A. người sinh nữ trường SPNN năm xưa, quê hương thành phố biển.

Em Về Biển cũng là một bài thơ tình sâu sắc và khá hay. Ở bài đó có một đoạn tác giả cũng nhắc đến việc đón người yêu bên cổng trường:

Hàng bạch đàn năm xưa còn đó
Anh còn đây, em hỡi! Anh còn đây

Nhớ những buổi đón em bên cổng trường sinh ngữ

Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay...

Nhưng Em Về Biển anh đã viết từ năm 1993, khi mái tóc mới bạc nửa phần (như lời thơ) - Còn bài "Anh vẫn ở bên hồ Tây" này thì tác giả lại vừa sáng tác trong năm 2012, khi đã qua cái tuổi lục tuần. Sau gần 20 năm, chắc nay tóc nhà thơ đã phải bạc gần hết rồi? Thế mới biết tâm hồn thi nhân trẻ mãi không già.

Hồ Tây chẳng phải chỉ là nơi nhà thơ sinh sống, ở đó còn ghi nhận bao nhiêu kỉ niệm tình yêu của đời anh. Mỗi khi qua lại bên hồ, không tránh khỏi những giây phút tác giả chạnh nhớ về tình cũ, lòng xa xót. Bởi vậy vừa mới vào thơ anh đã thốt lên:

Tình để lại vết thương không lành được
Soi mặt hồ in mãi bóng thời gian

Và hình ảnh người con gái lại hiện về làm xao động trái tim anh:

Em hiền dịu trái tim từng tha thiết
Người con gái anh yêu nay hóa khói sương tan

Hình ảnh "hoá khói sương tan" đó chính là một biểu tượng về cát bụi cuộc đời. Tình yêu thiêng liêng vậy, hình ảnh cô sinh nữ cũng hiền dịu và anh tha thiết đến thế, vậy mà giờ đây tất cả chỉ còn là sương khói. Ngôn ngữ thi ca của Phạm Ngọc Thái sử dụng thuộc loại ngôn ngữ hình tượng hội hoạ, tuy bình dị nhưng vẫn thanh thoát và hàm súc.

"Anh vẫn ở bên hồ Tây" là một bài thơ tình cảm động. Vết thương tình dẫu chỉ là vô hình, nhưng nó lại có thể khoét sâu vào trái tim, tâm hồn làm cho nhà thơ đau đớn như không bao giờ lành lại được. Lòng anh lưu luyến cả một thời tuổi trẻ đã qua đi. Sang đoạn thứ hai, tình thơ càng được khắc sâu hơn về tình yêu:

Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt
Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết
Tình thơ ngây... tình sao mãi thơ ngây…

Tôi nghĩ, người con gái kia khi nghe được những lời thơ này của anh chắc phải xúc động lắm! Nhà thơ đã trải nghiệm qua gần trọn một đời mình nên cái "nông nỗi đời người" - ở đây ý muốn nói về những mất mát trong tình yêu cũng như cuộc sống con người, càng thấy quí những hạnh phúc đã trôi đi. Cô gái ấy giờ đây đâu còn trẻ? nhưng trong kí ức nhà thơ, em vẫn trong trắng tươi mát như thuở nữ sinh - Câu thơ "Tình thơ ngây... tình sao mãi thơ ngây" là vậy. Trong tình yêu có biết bao sự ly tan chẳng ra đâu vào đâu, có khi cả hai người cùng yêu tha thiết với nhau suốt đời, ấy vậy mà cũng tan vỡ. Chính thế nên vào đoạn thơ thứ hai này lòng tác giả mới thổn thức: Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt/- Nghĩa là những năm tháng yêu em là thời gian hạnh phúc của đời anh. Đó là sự luyến tiếc cuộc sống và tình yêu tuổi trẻ, ngỡ đã vụt trôi như một cánh chim bay...

Sau đó tác giả có nhắc lại về những buổi đón em bên cổng trường như đã nói ở trên, để cuối cùng anh kết:

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại
Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi
Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi...

Hình ảnh gió hồ Tây thổi cùng những làn mây trôi... là biểu tượng những tháng năm tiếp nối và cuộc sống heo hút của nhà thơ. Đó là hai câu thơ hay nhất bài, lời thơ sinh động đầy hàm ý. Nhờ hai câu kết này mà bài thơ được viên mãn và tầm vóc hay lên, để nói tình yêu cuộc đời vừa cát bụi vừa mãi mãi...

Như lời Nguyễn Đình Chúc trong một bài bình luận về chân dung thơ Phạm Ngọc Thái, khi nói về tình thơ này đã có nhận xét:

- "Anh vẫn ở bên hồ Tây" là một bài thơ tình hay của tập Hồ Xuân Hương Tái Lai, hình ảnh thơ rất chân thực nhưng vẫn cô đúc, dường như trên mỗi dòng thơ đều có máu tim của nhà thơ đang rỏ xuống...

Rồi nhà bình luận khái quát:

- Bài thơ chỉ có 16 câu với 4 khổ thơ, được viết vào lúc cuộc đời tác giả đã về chiều khi nhớ lại mối tình với một người sinh nữ.

Đứng bên bờ hồ Tây gió thổi, mây bay... tác giả bồi hồi nghe tiếng của lòng mình đang trỗi dậy thưở còn tình yêu tuổi trẻ. Hình tượng thơ khắc họa trong câu cuối cùng: Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi.../- ý nói, những làn mây trôi kia không chỉ là cảnh vật thiên nhiên hoang vu mà nó còn biểu thị cho cả khoảng thời gian trôi. Như câu: Hạnh phúc qua như một cánh chim bay/- Nói lên niềm vui ngắn ngủi, thoảng chốc đã không còn. Hoặc khi tả về hình bóng người con gái xa xưa nay chỉ còn trong ký ức, anh viết:

Người con gái anh yêu nay hoá khói sương tan

Để biểu thị cho sự chìm lấp của thời gian đã trôi vào quá khứ" - Đó chính là thứ ngôn ngữ thi ca rất hàm súc và giàu tính biểu tượng.

Theo cảm nhận của tôi: "Anh vẫn ở bên hồ Tây" là một bài thơ tình vô giá của nhà thơ Phạm Ngọc Thái. Chẳng những bài thơ cảm hoá được lòng người, đồng thời còn có khả năng tồn tại với đời. Rất có thể thi phẩm sẽ trở thành một viên ngọc thi ca của văn đàn hôm nay và mai sau!

© Hoàng Thị Thảo
NR: Số 13 ngách 366/36 đường Ngọc Lâm, Q.Long Biên Hà Nội.

Tác giả gửi đến VANGANH.INFO
Read more…

Ai ném đá vào Hội Nhà Văn hay chính Hội Nhà Văn ném đá vào nền văn học Việt Nam, ném đá vào lịch sử Việt Nam và bạn đọc?

03:24 |
Trần Mạnh Hảo

Trên trang mạng của nhà văn Phạm Viết Đào ngày 29-01-2013, có phổ biến bài viết: “Chủ tịch Hữu Thỉnh: Hội Nhà Văn không phải là vật "Tế Thần" để cho ai đó..."ném đá"...”

Trong lễ trao giải thưởng và kết nạp hội viên mới, ngày 29-01-2013, nhà thơ Hữu Thỉnh – chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam kiêm chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã phát biểu (web Phạm Viết Đào đưa lên một video clip bài nói vo của ông Hữu Thỉnh) khẳng định lập trường chính trị kiên định của Hội rằng văn học là để phục vụ nhiệm vụ chính trị, tức phục vụ đảng, nhất là trong tình hình nhậy cảm này, ca ngợi các tác giả đoạt giải lên mây.

Các hội viên Hội Nhà văn Việt Nam được kết nạp năm 2013. Nguồn: Phạm Viết Đào

Khi ông Hữu Thỉnh nói thì dưới hội trường (toàn là các nhà văn ưu tú trong ban chấp hành, trong các hội đồng chuyên môn, các nhà văn được giải thưởng và các nhà văn mới được kết nạp cùng các nhà văn cánh hẩu của ban thường vụ hội…) lại nói chuyện còn hơn vỡ chợ. Nghĩa là ông Hữu Thỉnh nói mà không ai thèm nghe, cứ nói chuyện tự nhiên, cười đùa, gọi điện thoại ầm ĩ y như pháo nổ.

Xem ra văn hóa ứng xử của các nhà văn quốc doanh thật là thiếu văn hóa.

Chúng tôi chỉ ghi lại tinh thần bài nói của ông Thỉnh, chứ không chép lại từng câu nói chính xác của ông như thư ký chép tốc ký bài nói của thủ trưởng.

Ông Hữu Thỉnh

Ông Hữu Thỉnh đấm ngực ăn năn hối lỗi trước đảng: Hội ta phải nói cho đúng là trí tuệ còn yếu, chưa nâng tầm trí tuệ lên kịp với đảng với dân. Tuy trí tuệ ta còn kém nhưng ta kết nạp 25 hội viên mới khóa này tuyệt vời trên cả tuyệt vời. Rằng giải thưởng văn học năm nay trao đúng người đúng tác phẩm mà chất lượng nghệ thuật cũng rất hay, tuyệt hay. Không như năm ngoái, giải thơ chỉ có cách tân mà không có dân tộc. (Nói như thế này, ông Hữu Thỉnh đã tự phủ nhận giải thơ năm ngoái của Hội rất kém về nghệ thuật, tức là thơ dở mà đưa ra tặng giải thơ hay!).

Ông Thỉnh tiếp tục thổi: giải thưởng thơ năm nay cũng trao cho bốn tập thơ như năm ngoái nhưng năm nay vừa cách tân vừa dân tộc, rất hay, ví như tập của anh Thanh Thảo là tuyệt hay, nhuần nhuyễn, sâu sắc, rất mới, rất tuyệt…Ba tập thơ còn lại cũng hay ngang với thơ Thanh Thảo…

Ông Hữu Thỉnh đanh thép lên án: tôi cực lực lên án một bài báo vu cáo nói thơ anh Thanh Thảo là thơ mậu dịch, thơ quốc doanh. Nói như thế là phủ nhận sạch trơn, là xúc phạm, thóa mạ tài năng đáng kính, là vô văn hóa. Các đồng chí nên nhớ rằng nếu không có mậu dịch quốc doanh, không có hợp tác xã quốc doanh ta không đánh thắng được Mỹ đâu.

Ông Hữu Thỉnh tiếp: chỉ sau 05 ngày công bố giải thưởng, Hội đã nghe tiếng chửi đầy tai. Một số cơ quan báo chí cường điệu hóa vấn đề giải thưởng. Có báo đưa lên trang nhất bài nói xấu giải thưởng hội nhà văn. Chúng tôi sẽ làm việc với các cơ quan chủ quản báo chí về chuyện này. Rằng Hội không bó tay ngồi yên để người ta đánh hội đâu. Hội ta không cho phép bất cứ ai, bất cứ báo nào đưa hội ra chửi. Chúng ta quyết không cho phép bất cứ ai, bất cứ báo nào biến Hội nhà văn sang trọng đang yêu đảng yêu dân này làm vật tế thần để báo chí chửi bới. Rằng một số hội viên hay chửi hội nếu muốn xin ra khỏi hội thì ban chấp hành sẽ ok liền…

Phải nói ông Hữu Thỉnh hơi bị nóng tính nên thiếu khôn ngoan, phát biểu nhiều điều quấy quá. Hội nhà văn có nhiều cơ quan báo chí sao không đáp trả những ai, những báo dám nói xấu hội? Việc gì mà ông Hữu Thỉnh lại chửi những người đã góp ý, đã dám viết thư xin không nhận bằng khen, xin rút ra khỏi hội đồng văn xuôi…bằng ngôn ngữ hơi bị mất gà như thế? Ông dùng biện pháp công an để đe dọa những ai, những báo nào dám phê bình hội, phê bình giải thưởng của hội rằng: tôi sẽ làm việc với ban chủ quản các báo chí ấy. Thật là ghê gớm thay! Rằng như thế, ông Hữu Thỉnh đã kéo Hội về thời công an trị trước đổi mới…

Chẳng có ai dám ném đá vào Hội, hay dám vu khống nói xấu hội như ông Hữu Thỉnh lên án. Chỉ có ông Hữu Thỉnh và ban lãnh đạo hội ném đá vào nền văn học, ném đá vào lịch sử dân tộc, ném đá lên khát vọng vào hội của các nhà văn trẻ muốn gia nhập hội, ném đá vào tình yêu văn học của bạn đọc cả nước.

Chúng tôi xin chứng minh:

1- Ông Hữu Thỉnh và ban lãnh đạo hội suốt ba nhiệm kỳ ông Thỉnh làm chủ tịch hội đã ném đá vào nền văn học Việt Nam.

Thời các ông: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm, Vũ Tú Nam làm tổng thư ký hội nhà văn Việt Nam (tức chủ tịch hội), trong “Bản điều lệ hội” đều ghi câu đầu rằng: HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM LÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI NGHỀ NGHIỆP…

Khi ông Hữu Thỉnh làm chủ tịch hội, ông đã nhét từ CHÍNH TRỊ vào trước từ “XÃ HỘI NGHỀ NGHIỆP”của bản điều lệ cũ, thành ra bản điều lệ mới như sau:
"Hội Nhà văn Việt Nam (gọi tắt là Hội) là tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp tự nguyện của các nhà văn Việt Nam (bao gồm những người sáng tác: thơ, văn xuôi, kịch bản, lý luận phê bình, dịch thuật văn học) lấy hoạt động văn học là nghề nghiệp của mình.”
Như vậy, ông Hữu Thỉnh đã làm cuộc đánh tráo lớn, biến một tổ chức xã hội nghề nghiệp thành một tổ chức chính trị- xã hội-nghề nghiệp, biến tính mục đích văn học của hội thành phương tiện và ngược lại.

Ông Hữu Thỉnh làm điều sai trái tày trời này cốt nịnh đảng, cốt đưa văn học trở về thời tiền đổi mới, rằng VĂN HỌC PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ, văn học là đày tớ con sen của chính trị.

Với hành động này, ông Hữu Thỉnh đã chống lại mỹ học Mác-xít, hay chống lại chính nguyên lý căn bản của chủ nghĩa Marx: rằng, văn học (văn nghệ) và chính trị là hai phạm trù riêng biệt, độc lập với nhau, không phục vụ nhau, không phụ thuộc nhau trên thượng tầng kiến trúc xã hội.

Bắt văn học phục vụ chính trị là sai hoàn toàn quan niệm Mác-xít à thưa ông Hữu Thỉnh hàm bộ trưởng chưa hề qua một lớp sơ cấp về chủ nghĩa Marx.

Ai cũng biết CHÍNH TRỊ LÀ THỦ ĐOẠN, còn VĂN HỌC LÀ SỰ CHÂN THÀNH, LÀ XÚC CẢM, TÌNH CẢM CHÂN THẬT CỦA CON TIM…

Khẳng định trong điều lệ Hội nhà văn Việt Nam LÀ MỘT TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI- NGHỀ NGHIỆP có khác nào nói Hội nhà văn Việt Nam là một TỔ CHỨC THỦ ĐOẠN ….

Ấy chính là việc ông Hữu Thỉnh đã ném hòn đá quá lớn vào văn học VN, vào chính văn hóa Việt Nam vậy!

2- Ông Hữu Thỉnh và ban lãnh đạo hội đã ném đá vào lịch sử Việt Nam, ném đá vào cuộc khởi nghĩa Làm Sơn, ném đá vào vị vua đã thống nhất đất nước là vua Gia Long khi trao giải thưởng cho tiểu thuyết “Hội thề” của Nguyễn Quang Thân và truyện ngắn “Dị hương” của Sương Nguyệt Minh.

“Hội thề” của Nguyễn Quang Thân chửi rủa Lê Lợi, Nguyễn Trãi và các tướng sĩ Lam Sơn là giặc, là bọn cướp của, hãm hiếp dân chúng. “Hội thề” ca ngợi đám tướng lĩnh giặc Thanh xâm lược Việt Nam là những người có văn hóa, sang trọng, lịch lãm, yêu dân như con, sang Giao Chỉ cứu giúp dân Việt, khai hóa văn minh cho dân Việt. Chính ra “Hội thề” phải được bọn bá quyền Bắc Kinh trao giải thưởng, sao chúng lại mượn tay Hội nhà văn Việt Nam để làm việc này?

Như vậy, tội ném đá vào lịch sử của ông Hữu Thỉnh và ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam rất lớn, có thể “chặt hết trúc Lam Sơn cũng không ghi chép được, lấy hết nước biển đông cũng không rửa sạch được” theo như người xưa nói.

3- Ông Hữu Thỉnh đã ném đá vào nền văn học, ném đá vào tình yêu văn học của dân Việt Nam bằng cách giới thiệu ông Hoàng Quang Thuận và thơ ông bịp thần bịp thánh này, một kẻ chưa biết làm thơ sản xuất ra nhiều tập thơ dở nhất nước MANG THƠ DỰ GIẢI NOBEL. Như vậy, theo ông HT, thơ Hoàng Quang Thuận xứng đáng được giải Nobel, là thơ hay nhất nước. Đó chính là việc ném hòn đá rất to vào văn học Việt Nam, có tội với Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, với Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc tử, Chế Lan Viên…của ông HT.

4- Việc ông Hữu Thỉnh kết nạp “nhà thơ Hùng Anh” ( Hùng Tấn, giám đốc công ty Dược Cà Mau) – một kẻ làm thơ con cóc nhưng lắm tiền do tham nhũng vào Hội là ông đã ném đá lên khát vọng vào hội của các nhà văn chưa hội viên. (Hùng Tấn - Hùng Anh kết nạp vào Hội do tiền mới được hai tháng đã bị bắt vì tham nhũng hàng trăm tỷ đồng. Hiện vẫn còn trong tù). Việc ông Hữu Thỉnh và ban lãnh đạo Hội kết nạp những người nhiều tiền mà thơ dở nhất nước như Hùng Anh, như Hoàng Quang Thuận… vào Hội nhà văn Việt Nam vừa qua cũng chính là hành vi ném đá vào nền văn học vậy.

5- Việc ông Hữu Thỉnh và ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam cho phép “Tạp chí nhà văn” hội thảo thơ tầm bậy lừa thần thánh, thơ ăn cắp, thơ lừa mọi người của Hoàng Quang Thuận âu cũng là việc các vị ném đá vào nền văn học và vào tình yêu văn học của mọi người.

6- Việc ông Hữu Thỉnh và Ban lãnh đạo Hội vừa qua xét trao giải thưởng văn học giải Hồ Chí Minh và giải thưởng văn học nhà nước cho hầu hết các tác phẩm kém chất lượng nghệ thuật. Ví như giải thưởng văn học Hồ Chí Minh trao cho các ông Hữu Thỉnh, Hà Minh Đức, Lê Văn Thảo, Hồ Phương, Ma Văn Kháng thì chỉ nhà văn Ma Văn Kháng xứng đáng nhận giải này; các vị kia đều có tác phẩm trung bình hoặc dở. Ngay cả giải thưởng văn học hàng năm mấy năm nay ông HT và ban lãnh đạo Hội cũng chỉ chọn các tác phẩm trung bình hoặc dở để trao giải thưởng. Việc này làm hỏng thị hiếu văn học lớp trẻ, cũng là một cách ném đá vào nền văn học nước nhà.

Chúng tôi còn có thể kể ra hàng chục vụ ông Hữu Thỉnh và ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam ném đá vào lịch sử, ném đá vào nhân dân, ném đá vào văn học…nhưng vì sợ nhàm tai bạn đọc, hẹn một dịp khác.

Cuối cùng, chúng tôi chỉ xin hỏi ông Hữu Thỉnh và ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam rằng:

Đảng đã lấy (lấy trộm vì không xin phép dân) hàng trăm, thậm chí hàng nghìn tỷ đồng là tiền mồ hội xương máu của nhân dân cho hội nhà văn tiêu xài vung vít, tiêu xài phi lý hàng năm, hàng chục năm nay, cốt chỉ để các vị làm nghề ném đá bất nhân như vậy hay sao?

Sài Gòn ngày 01-02-2013

© Trần Mạnh Hảo

Viết báo, viết văn, làm thơ, viết phê bình văn học
Read more…

Điều 4 Hiến Pháp và Quyền Con Người

02:31 |
Luật sư Nguyễn Văn Đài

Trong Hiến pháp của tất cả các nước trên thế giới đều qui định quyền lực tối thượng của quốc gia thuộc về nhân dân. Và tất cả những gì có liên quan đến tự do đều thuộc về Hiến pháp. Hiến pháp không chỉ là văn kiện pháp lý cao nhất qui định hình thức hay thể chế chính trị quốc gia, mà còn là một văn kiện pháp lý cao nhất bảo đảm quyền của người dân chống lại mọi trường hợp lạm quyền của chính phủ. Bổn phận của mọi quyền lực quốc gia là bảo vệ và kính trọng phẩm giá con người.

Quốc hội Việt Nam bắt đầu đưa bản dự thảo Hiến pháp 1992 sửa đổi ra lấy ý kiến nhân dân. Mục đích của việc lấy ý kiến của nhân dân là để cho bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi sẽ hoàn thiện hơn trước khi được Quốc hội thông qua. Tất cả mọi người dân Việt Nam đều mong muốn có một bản Hiến pháp mới tôn trọng và bảo đảm nhân phẩm và các quyền con người. Và Hiến pháp mới phải định định hình nên một thể chế dân chủ để cho mọi người dân đều có quyền ngang nhau trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Bởi quyền và trách nhiệm của mỗi công dân, chúng ta có nghĩa vụ phải góp ý vào bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

rong bài viết này, tôi chỉ đề cập đến sự xung đột, mâu thuẫn giữa điều 4 Hiến pháp với các quyền con người về chính trị.

Điều 2 bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi qui định “Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Điều này được hiểu là đa số người dân có toàn quyền quyết định về thể chế chính trị, kinh tế, đối ngoại, an ninh, quốc phòng,… thông qua trưng cầu dân ý. Đa số người dân có quyền lựa chọn đảng cầm quyền, người đứng đầu quốc gia thông qua cuộc bầu cử tự do và công bằng. Tức là đa số người dân có quyền quyết định đảng nào là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tóm lại là đa số người dân có quyền quyết định về mọi vấn đề của đất nước. Các tổ chức, đảng phái chính trị có trách nhiệm đưa ra các ứng cử viên, cương lĩnh, đường lối của mình để nhân dân lựa chọn và quyết định. Trong khi đó điều 4 của bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi qui định “đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Điều này đã phủ nhận quyền lực của nhân dân trong việc lựa chọn đảng cầm quyền thông qua bầu cử cũng như phủ nhận quyền lực của nhân dân trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Qui định của điều 4 trái với nguyên tắc của một thể chế Nhà nước dân chủ. Như vậy rất rõ ràng là điều 4 đã mâu thuẫn và xung đột với điều 2. Nếu Quốc hội giữ điều 4 qui định quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội là của đảng Cộng sản thì điều 2 phải sửa lại là “Nhà nước là của đảng Cộng sản, do đảng Cộng sản và vì đảng Cộng sản. Tất cả mọi quyền lực Nhà nước thuộc về đảng Cộng sản.” Hoặc là ngược lại, Quốc hội muốn giữ điều 2 qui định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" thì phải sửa đổi toàn bộ điều 4.

Điều 6 của bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi qui định “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước.” Điều này được hiểu là mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, đảng phái, quan điểm chính trị, tôn giáo,… đều có quyền ứng cử trực tiếp vào vị trí lãnh đạo trong các cơ quan Nhà nước, chính quyền từ trung ương đến địa phương. Nhưng điều 4 lại chỉ cho phép những công dân là đảng viên đảng Cộng sản có quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều 4 đã bóp chết quyền của những công dân không phải đảng viên đảng Cộng sản thực hiện quyền lực Nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp. Như vậy điều 4 đã mâu thuẫn và xung đột với điều 6.

Điều 17 qui định “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Điều này được thể hiện là nhu cầu của một chủ thể tự nhiên với tư cách một con người cần phải có và buộc phải có. Trong xã hội sẽ không có tự do nếu không có sự bình đẳng thực sự giữa các thành viên trong xã hội với nhau. Quyền bình đẳng còn là một giá trị nhân bản của xã hội loài người. Quyền bình đẳng trước pháp luật là quyền không bị pháp luật phân biệt đối xử do sự khác nhau về chủng tộc, giới tính, tôn giáo, quan điểm chính trị,… Trong đời sống chính trị, quyền bình đẳng trước pháp luật được hiểu là mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng, có quyền và cơ hội ngang nhau trong việc tự do tham gia ứng cử vào các vị trí lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Trong khi đó theo tinh thần của điều 4 thì chỉ những công dân Việt Nam là đảng viên đảng Cộng sản mới có quyền và cơ hội tham gia ứng cử vào các vị trí để lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Hiện nay, ở Việt Nam chỉ có hơn 3 triệu công dân là đảng viên đảng Cộng sản, trong khi có hơn 80 triệu công dân không phải đảng viên đảng Cộng sản. Như vậy, thật rõ ràng là hơn 3 triệu đảng viên đảng Cộng sản đã tước đoạt quyền và cơ hội của hơn 80 triệu công dân khác. Như vậy điều 4 đã phủ nhận quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân. Điều 4 đã mâu thuẫn và xung đột với điều 17 và trái với nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt quan điểm chính trị, đảng phái,…

Điều 29 của bản dự thảo Hiến pháp sửa đổi qui định “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội”. Theo tinh thần của điều này thì mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, đảng phái, quan điểm chính trị, tôn giáo, nghề nghiệp, thời gian cư trú,…đều có quyền tham gia quản lý, lãnh đạo đất nước một cách trực tiếp hoặc thông qua đại diện mà họ lựa chọn trong việc tham gia ứng cử hay bầu cử. Nhưng theo qui định của điều 4 thì chỉ những công dân Việt Nam là đảng viên đảng Cộng sản mới có quyền và cơ hội để tham gia quản lý, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Một lần nữa, điều 4 lại phủ nhận quyền và cơ hội của những công dân không phải đảng viên đảng Cộng sản trong việc tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. Như vậy điều 4 đã mâu thuẫn và xung đột với điều 29.

Qua các phân tích trên, chúng ta thấy rằng các điều 2, điều 6, điều 17 và điều 29 có mối liên hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau nhằm khẳng định các quyền con người về chính trị của công dân là bất khả xâm phạm. Qui định của điều 4 thể hiện nguyên tắc phản dân chủ, nó trái với nguyên tắc của một thể chế chính trị dân chủ. Điều 4 đã vô hiệu hóa việc công dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp. Điều 4 đã xóa bỏ quyền bình đẳng và quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của hơn 80 triệu công dân Việt Nam không phải là đảng viên đảng Cộng sản.

Trong một Nhà nước dân chủ và tôn trọng các quyền con người thì quyền lực, quyền lãnh đạo của một đảng chính trị phải do đa số người dân trao cho thông qua một cuộc bầu cử tự do và công bằng. Một đảng chính trị chân chính, trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh sẽ nhận được sự ủng hộ của đa số người dân để nắm quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà không cần qui định quyền lãnh đạo của mình trong Hiến pháp.

Trong thực tế, từ khi quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội của đảng Cộng sản đã được qui định trong điều 4 Hiến pháp 1980 đã không làm cho đảng Cộng sản mạnh hơn. Ngược lại đã làm cho đảng Cộng sản ngày càng suy yếu về đạo đức, năng lực lãnh đạo và quản lý. Trước hiện trạng tham nhũng trở thành quốc nạn, giặc nội xâm của dân tộc, sự suy đồi về đạo đức và lối sống của các đảng viên. Hầu hết những lãnh đạo cao cấp của đảng Cộng sản đều thừa nhận một thực tế hiển nhiên là họ ngày càng đánh mất uy tín và niềm tin của nhân dân. Họ đã thừa nhận nguy cơ đảng Cộng sản bị mất quyền lực trong một cuộc cách mạng xã hội do nhân dân tiến hành.

Quan điểm của tôi cho rằng khi đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ quyền lãnh đạo trong điều 4 Hiến pháp thì sẽ tạo ra thách thức thực sự cho đảng Cộng sản. Từ đó, họ sẽ có động lực để chỉnh đốn đảng và xây dựng một đội ngũ những nhà lãnh đạo có đạo đức, năng lực, uy tín để giới thiệu với nhân dân. Thách thức đó sẽ làm cho đảng Cộng sản mạnh lên chứ không yếu đi nếu họ dám loại bỏ những thành phần cơ hội, tham nhũng ra khỏi đảng. Đảng Cộng sản cần phải thể hiện bản lĩnh, trí tuệ, đạo đức và năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong một thể chế chính trị dân chủ đa đảng. Muốn vậy, đảng Cộng sản phải tôn trọng quyền lực của nhân dân, tôn trọng các quyền con người, quyền bình đẳng của mọi công dân trong xã hội.

Hà Nội, ngày 17 tháng 1 năm 2013.

Theo Ủy Ban Nhân Quyền Việt Nam
Read more…

Tập thơ "Đôi Hồn" và Một Đôi Diểm Tình

08:27 |
Phạm Ngọc Thái

Tập thơ "Đôi hồn" là sản phẩm thi ca của một mối tình đã được thăng hoa giữa thi nhân Hàn Mặc Tử (HMT) cùng nữ sỹ Hoàng Yến - Mai Đình (MĐ), mối tình ấy diễn ra cũng như thơ của cả hai người đều đã được viết từ trước đây hơn nửa thế kỷ.

Bây giờ ở trên đỉnh cao Gành Ráng, Qui Nhơn bên bờ biển Đông, mộ của thi nhân HMT quanh năm sóng phủ. Thơ của Người đang được nhân gian truyền tụng như những vì sao sa sáng láng. Đúng như lúc đương thời Người viết:

Với sao sương, anh nằm chết như trăng

Nhưng khi còn trong cõi sống, Người đã phải chịu bao nhiêu khổ hạnh vì bệnh tật. Tạo hoá đã cướp đi một tài hoa lúc đương độ rực rỡ, khi cuộc đời Ông mới chỉ vừa 28 tuổi. Ngẫm thế: kiếp người có khác gì kiếp nợ! Phải chăng muốn hoá siêu nhân... thì trước hết con người phải chịu đựng những sự đầy đoạ ở phàm trần? Nhưng thế giới sinh linh này cũng thật huyền diệu và bí ẩn, chính thiên diễm tình ấy lại nẩy nở trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của cuộc sống. Khi mà thi nhân lâm vào căn bệnh phong ác nghiệt, thì nàng Mộng Cầm (người con gái quê Phan Thiết đã từng một thời yêu thi nhân) lại bỏ đi lấy chồng... đẩy thi nhân thêm vào cảnh đau đớn, cô đơn.

Nữ sĩ Mai Đình
(lúc gặp Hàn Mặc Tử)
Trời đất đã cho một ái nữ khác đến với Người. Theo như lời kể của Đắc Trung (trên báo Phụ nữ Việt Nam số 28 ra ngày 11-1-1994 ), thì ái nữ ấy:

"Xuất thân trong một gia đình quan lại quê Nông Cống, Thanh Hoá. Thân phụ nhận chức tại Phan Thiết, mười sáu tuổi sống bên cha, sau này vào ở Sàigòn. Cô thiếu nữ ngây thơ xinh đẹp, rất được cưng chiều...)

Chính là nữ sỹ Hoàng Yến - Mai Đình. Nàng lại còn thông tuệ về văn thơ cùng với Người để tạo nên một thiên bi tình khả ái, với tập thơ "Đôi hồn" lai láng yêu đương. Tập thơ ấy được thi nhân cùng người nữ sỹ giao lưu trong mối tơ duyên và viết suốt ba năm (1937-1940): gồm 54 bài (kể cả hơn chục bài thơ mà bà Mai Đình viết sau này, khi HMT đã qua đời ngày 11-11-1940).

Đến nay năm tháng trôi qua, cuộc đời riêng chung biết bao biến đổi, nhưng lòng người nữ sỹ vẫn:

Nói sao cho xiết nỗi buồn?
Một trời binh lửa, một hồn cô liêu.
Hồn tôi theo đám mây chiều,
Tìm chàng trong một túp lều tranh con.
( Âm thầm - MĐ )

Đó chính là cái túp lều tranh ở Gò Bồi trên một khu cát rộng phía Tây thành phố Qui Nhơn. Cách đây trên nửa thế kỷ (1939) người nữ sỹ đã đến thăm thi nhân khi ông mắc bệnh hiểm nghèo, phải sống lẩn tránh cả chính quyền địa phương. Vì bệnh lây nên chính quyền buộc gia đình phải đưa HMT vào bệnh viện "cùi" Qui Hoà để chữa bệnh và ẩn náu, cách biệt tất cả mọi người. Đó cũng là lần đầu tiên Nàng mới gặp mặt người yêu, vì trước đó đôi năm tình yêu của hai người chỉ trao đổi qua các áng thơ, như Nàng kể lại:

- Đến trước túp lều tranh xơ xác, xiêu vẹo... vén tấm mành che cửa... một người đàn ông nhỏ bé, gầy yếu, ngồi trên chiếc giường chõng, cạnh bàn viết. Bàn là một tấm gỗ thùng đặt trên khung chân cũ. Người đàn ông ngước đôi mắt đen sáng long lanh nhìn tôi dò hỏi. Tôi đứng lặng đi. Hàn Mặc Tử đấy ư? ...

Nàng tả về đôi mắt trong sáng như hai ngôi sao của thi nhân, tấm thân thì ốm yếu tàn tạ, nhưng thông minh và cám dỗ. Vâng, nàng đã yêu trong hoàn cảnh ấy:

Em theo mây gió anh ơi,
Em đi đi mãi vào nơi vô hình...
Yêu anh trên bước phiêu linh,
Để lòng bớt khổ, để tình bớt đau.
( Biệt ly - MĐ )

Mặc dù chỉ là một nữ nhi khuê các nhưng sức mạnh tình yêu của nàng không gì ngăn cản nổi, hoàn cảnh càng khắc nghiệt thì tình nàng càng đằm thắm, thiết tha:

Yêu anh trong lúc anh lâm chung,
Mới thấy tình em yêu lạ lùng.
( Anh hứa đi anh - MĐ )

Vượt lên trên tất cả sự chỉ trích của người đời:
Kịp nghĩ miệng đời hay mỉa mai,
Tảng lờ ngừng bước và im hơi,
Mộng hồn em gửi theo chiều gió
Để được gần anh ngỏ ít lời.
( Biết anh - MĐ )

Ta cảm thấy rợn tóc gáy, không thể không khâm phục ý chí quyết liệt trước lời tuyên bố của nàng:

Tôi chẳng sợ cảnh nghèo hèn đói khổ,
Tôi không kiêng thứ da thịt khác người
(vì HMT mắc bệnh hủi)
Vì lòng tôi, tôi chỉ biết yêu thôi !...
(Tuyên bố - MĐ)

Hoàn cảnh bi ai, sầu thảm thế nhưng tình nàng không chỉ đằm đìa mà còn trong sáng, mộng mơ một cách lạ kỳ:

Yêu anh chết nửa cõi lòng,
Gửi hồn bay bổng mấy tầng mây xanh.
(Tơ sầu - MĐ)

Còn thi nhân HMT, người yêu của nàng cũng mộng mơ không kém:

Dưới túp lều tranh, trên chõng tre,
Tứ bề cửa khép với phên che,
Kéo mền ủ kín toàn thân lại,
Để thả hồn bay gửi mộng về.
(Hãy đón hồn anh - HMT)

Cảnh ngộ thì khổ sở, nghèo hèn nhưng tâm hồn họ thật thanh tao, hoành tráng biết bao. Đúng là: "Một túp lều tranh, hai trái tim vàng"! Mai Đình đáp lại:

Bây giờ em đã bên anh
Đói nghèo em chịu, rách lành cũng vui.
(Em vẫn bên anh - MĐ)

Tuy vậy, nhưng nào họ có được ở bên nhau! Chỉ thăm người yêu ít ngày rồi nữ sỹ lại phải chia tay về gia đình tận Sàigòn. Hàn Mặc Tử với bệnh tình đành nằm lại trong túp lều tranh ở Qui Nhơn, người phương Bắc kẻ phía Nam. Hoàn cảnh đã khắc nghiệt mà không gian ly biệt thì xa vời, nhớ nhau cũng chỉ biết:

Anh đứng cách xa hàng thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cười.
(Lưu luyến - HMT)

Nhưng theo dõi hồn thơ ta có cảm nhận như đang gặp một cuộc tình duyên nơi chốn cung động thiên thai nào đó, chứ không phải ở trần tục đời thường. Thi nhân viết:

Đây Mai Đình tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt.

Hay là:

Quí như vàng, trọng như ngọc trên đời
Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái thế...
(Thắm thiết - HMT)

Nàng thì ví mình như Ngọc Nữ còn chàng là Kim Lang: vì để rơi chén vàng cho nên Ngọc Hoàng đẩy xuống trần thế, mặc dù nay đã hết hạn họ vẫn quyết ở lại bên nhau không về tiên giới:

Ta đã ở bên chàng nơi cõi tục,
Quyết không về điện ngọc sống cô đơn!

Để rồi:

Bốn bàn tay cùng chung xây hạnh phúc,
Túp lều tranh hơn cõi thiên đường.
(Hạnh phúc - MĐ)

Và tình yêu ấy đã đạt đến độ say đắm, giông bão khôn cùng:

Tôi ôm nàng, muốn cắn chết nàng đi!
(Thắm thiết - HMT)

Nữ sỹ Mai Đình kể lại khi họ gặp nhau:

- Vì sợ lây bệnh cho người yêu, nên Hàn Mặc Tử không dám đụng vào người Mai Đình...

Nàng nói:

- Những phút ấy mặt Hàn Mặc Tử đỏ rần lên rồi tím đi, còn Mai Đình cũng chết cả ruột gan không biết phải xử trí làm sao?

Thật là đau khổ và hy vọng:
Anh lành anh sẽ tặng em chi ?
Tặng cả đời anh cả hồn thi,
Với tất những gì anh ước vọng,
Cả hồn, cả xác, cả tình si.
(Anh hứa đi anh - MĐ)

Nhưng cũng như tình thường của bao đôi trai gái khác, tình yêu không chỉ có quấn quít "đôi hồn" mà cũng có lúc ghen tuông:

Em muốn thu anh thành vật nhỏ
Để em nắm kín ở trong tay...
Cho các cô nường hết ngất ngây.
(Ghen - MĐ)

Trong bài "ghen với Mộng Cầm" ta còn nhận thấy mặc dù Mộng Cầm là người con gái đã đến trước, được hưởng đầy đủ khoái lạc của tình yêu lúc thi nhân đang lành lặn, mà lại ruồng bỏ khi Người lâm bệnh. Nhưng với tư cách của Mai Đình vẫn tỏ ra là người tao nhã, trang trọng: ghen đấy mà không phỉ báng còn cảm thông với lẽ đời thường của một tấm lòng nhân hậu, khoan dung độ lượng:

Mộng Cầm hỡi, nàng là tiên rớt xuống,
Hay là vì tinh tú giáng trần gian?
Diễm phúc thay, sung sướng biết bao vàn,
Đầy đủ quá, nàng thương chăng kẻ thiếu?
(Ghen với Mộng Cầm - MĐ)

Đã bộc lộ tình cảm day dứt của một người con gái tha thiết yêu mà tâm sinh lý không được thoả mãn. Hàn Mặc Tử có lúc cũng không ra khỏi sự nghi kỵ, dằn vặt đời thường. Có lúc ông nghi oan người yêu có tình ý với người khác, buông ra những lời thơ hờn giận:

Mai tiên nữ! Đọc hồn ta cho rõ:
Đau không rên, chết cũng mặc mình thôi!
Mối tình si đã lỡ vỡ tan rồi,
Ta chỉ biết lặng nhìn thiên hạ khóc...

Hay là:

Tim hồn ta quằn quại giữa lầm than
Để trở lại những ngày đầy huyết lệ!
(Thầm lặng - HMT)

Sự mặc cảm đó cũng dễ hiểu: bản thân ông bệnh tật, người yêu thì trẻ đẹp lại ở cách xa...

Hôm nay trong lẽ sống thường tình trước mọi sự đổi thay, thăng trầm nhân thế... ta thưởng thức những tri âm, tri kỷ ấy càng thấy thiên tình duyên trác tuyệt này như một sự lạ cõi đời. Trong thời buổi kinh tế thị trường chi phối cả trong tình yêu trai gái và những mối quan hệ xã hội khác, thì cuộc tình xưa hẳn như một đài thơ diễm lệ, cho ta ngưỡng mộ và cảm phục!

Có phải chăng duyên ấy, phận này cũng đã là tiền định như khi nữ sỹ khóc bên mộ Người vào tháng 4-1941 (khoảng nửa năm sau khi thi nhân tạ thế):

Em đã về đây bên mồ cát trắng
Túp lều tranh muôn thưở đã chung đôi
Tự nghìn năm thượng đế định cho rồi...
(Em đã về đây - MĐ)

Hay cảm vì phận mỏng, tình dở dang, nàng than:


Anh ơi, xin hãy chờ em với!
Hết nợ rồi em sẽ trở về.
(Chắp lại đôi hồn - MĐ)

Ta chạnh nhớ tới câu thơ của cụ Nguyễn Du khi nàng Kiều than ở sông Tiền Đường:

Này thôi hết kiếp đoạn trường là đây!

Về thơ của thi nhân HMT thì chúng ta đã biết nhiều. Ở đây, qua tập thơ đôi hồn" còn cho chúng ta thưởng thức tài hoa của nữ sỹ Hoàng Yến - Mai Đình... như Kiều Văn đã nhận xét trong lời giới thiệu tập thơ:

- Đó là một giọng thơ giản dị, chân thực mà sâu sắc, nồng nàn... Là thứ thơ huyết lệ. Hàm chứa những tình cảm cao quí thiêng liêng, thuỷ chung...Xứng đáng là tiền bối của thơ tình Xuân Quỳnh và các nữ sỹ khác sau này.

Nói thế có lẽ vẫn chưa đủ, bút pháp thơ của nữ sỹ Mai Đình có lúc quặn thắt, đau đớn như Nàng viết:

Nguyện để tang anh suốt một đời!

Nhưng trước tình yêu non sông đất nước, ta lại còn chứng nhận một phong cách cũng thật hào khí:

Chút nợ ân tình trả chưa xong
Đành mang tâm sự mãi bên lòng
Sắt son đã chẳng cùng nhau trọn
Em phải đem mình gửi núi sông.
(Trăng cũ - MĐ)

Gợi ta nhớ tơi âm hưởng những câu thơ đầy hùng khí, trác tuyệt của nữ sỹ Ngân Giang trong bài
"Trưng nữ vương":


Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi,
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá!
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi.

Vào năm 1996 - Báo chí đã đưa tin về nữ sỹ Mai Đình... khi đó Bà bước vào tuổi thọ 80, Bà đã đến Gành Ráng, Qui Nhơn một lần nữa để thăm lại mộ của cố nhân. Một lần nữa, những giòng lệ xót thương lại chảy tràn trên đôi mắt Bà như thưở còn con gái, như câu thơ Bà đã viết:

Tóc trắng, tình xanh mộng chửa tàn.

Đài tưởng niệm Hàn Mặc Tử ở Gành Ráng
- Qui Nhơn -
Khi đó tuy tuổi đã già, cũng theo lời kể của Đắc Trung:

- Nữ sỹ Mai Đình vẫn giữ được những nét đẹp kiêu sa, quí phái. Mái tóc dài bạc trắng chải rất mượt, búi rất gọn. Da hồng, mắt sáng, miệng tươi. Giọng nói nhỏ nhẹ mà đầy âm hưởng. Khăn hoa áo lụa hảo hạng...

Để kết thúc bài viết về thiên tình ca trác tuyệt có một không hai này, tôi xin trích dẫn những lời thơ trăng trối của thi nhân Hàn Mặc Tử viết để lại cho người yêu. Đấy cũng là những bút tích cuối cùng, trong thi phẩm cuối cùng của Ông lưu lại cõi trần gian - Người đã "Trút linh hồn" trước lúc đi xa:

Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây,
- Còn em, sao chẳng hay chi cả?
Xin để tang anh đến vạn ngày!

Phạm Ngọc Thái
(Đã đăng báo Người HàNội)
----------------------------------
Tác giả gửi đến VANGANH.INFO
Read more…

Nguyễn Thanh Giang - Thơ chính luận Trần Nhơn

01:34 |
 Nguyễn Thanh Giang

Tiến sĩ Trần Nhơn
Sinh ngày: 10/4/1935
Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng

- 1961: Kỹ sư Thuỷ Lợi
- 1991: Tiến sĩ Kinh Tế
- 6/1972: Phó Cục trưởng Cục kiến thiết cơ bản - Bộ Thuỷ Lợi
- 1/1976: Trưởng ty (nay là Giám đốc Sở) Thuỷ Lợi tỉnh Đak Lak
- 1983: Vụ trưởng Vụ xây dựng cơ bản - Bộ Thuỷ Lợi
- 11/1983 - 1995: Thứ trưởng Bộ Thuỷ Lợi
12/1997 đến 9/2007: Chủ Tịch Hội Thủy Lợi Việt Nam

Từ tháng 7/2000 Tổng Giám đốc Công ty Hỗ trợ phát triển và hội nhập Toàn cầu

Chức vụ về Đảng:

- Tỉnh uỷ viên tỉnh uỷ Đak Lak
- Phó bí thư Đảng uỷ khối cơ quan nông nghiệp TW
- Uỷ viên thường vụ Đảng uỷ khối cơ quan kinh tế TW
- Đại biểu đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI.
- Đại biểu đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII

Qua lời tựa tập “Điêu tàn”, Chế Lan Viên đã ra một tuyên ngôn thơ nổi tiếng thời bấy giờ: “Hàn Mặc Tử nói: làm thơ tức là điên. Tôi nói thêm: làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là người. Nó là người Mơ, người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát hiện tại, nó xối trộn dĩ vãng. Nó ôm trùm tương lai”.

Sau Cách mạng Tháng Tám ông đã suy đi nghĩ lại về thơ rất nhiều (“Nghĩ suy 68”, “Nghĩ về thơ”, “nghĩ”...) để có lúc ông lại cho rằng “Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh, không chỉ “ơi hời” mà con đập bàn quát tháo lo toan,....”. Đến nỗi, ông còn không muốn làm “sự phi thường” đối với ngôn ngữ nữa mà trở về tập nói:

Xưa tôi hát mà bây giờ tôi tập nói
 Chỉ nói thôi mới nói hết được đời
 Bao giờ thuộc hết tiếng của đời, ta xin hát lại
 Khúc hát hay đâu có lắm lời

(Sổ tay thơ)

Thế rồi, từ “Trường thơ loạn” với những “thơ điên”, “thơ thần bí” …, Chế Lan Viên làm “thơ thời sự”, “thơ chính trị”. Có tác giả xếp bài thơ “Calley Sơn Mỹ 3/68,” vào hàng “thơ chính luận” đặc sắc của Việt Nam.

Cùng trong thể loại thơ chính luận, người ta thường liên tưởng đến bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm.

Trong buổi Hội thảo tưởng niệm tướng Nguyễn Chánh (1) tại quê hương ông, có người còn vinh danh nhà quân sự này là “một nhà thơ chính luận”.

Một số bài thơ chính luận của vị tướng này được dẫn ra như sau:

CÁI CÙM

Cái cùm bay khoá chặt
Ta quyết đập tan ra Đôi chân còn ràng buộc
 Buộc sao nổi lòng ta.

KÊU GỌI LÍNH GÁC

Bạn ơi nghĩ lại đó mà coi
 Rón bước đêm khuya gác giống nòi
Chung phận trâu cày và ngựa cưỡi
Vui chi vác súng với cầm roi
Bể dâu tôi bạn cùng chung gót
Quyền lợi mình, ta quyết chí đòi
 Quét sạch quân thù ra khỏi nước
Con đường cộng sản sáng gương soi.

VỊNH CON THỎ BẠCH

Di truyền tinh huyết của cha ông
 Lông trắng, môi son, cặp mắt hồng
Khỏi kiếp trâu cày và ngựa cưỡi
 Nào hơn cá chậu với chim lồng
Nên, hư trước mặt - ngừng tai ngóng
Hoạ phúc bên mình - nhường mắt trông
Sống - thác phó cho người ấn định
 Cõi trần còn mấy, biết hay không

Chưa được biết định nghĩa thế nào là “thơ chính luận” nhưng tôi cứ cảm nghĩ rằng ghép hai chữ chính luận vào mấy bài thơ trên cũng như bài “Đất nước” hay bài “Calley Sơn Mỹ 3/68” đều không thỏa đáng lắm. Có chăng đấy chỉ là những bài tức sự chính trị hay cảm tác chính khí …

Trần Nhơn mới thực là người đã dùng thơ để luận bàn về chủ trương đường lối chính trị, luận bàn về tư tưởng chính trị, luận bàn về chính sự …

Phải chăng, có thể xem đây là “hiện tượng Trần Nhơn” trong thi ca Việt Nam?

Nhà thơ chính luận Trần Nhơn đã có một thời cuồng nhiệt đi theo những nhà cách mạng lớp trước như Trần Độ “những mong xóa ác ở trên đời/Ta phó thân ta với đất trời” (2). Tuy không vào tù ra tội, không rơi xương đổ máu, nhưng nhờ tài năng, lòng nhiệt thành và trí tuệ bậc cao ông đã trở thành tiến sỹ và được Đảng cất nhắc lên đển chức Thứ trưởng Bộ Thủy Lợi, nhưng cái thực tế trớ trêu “Tháng năm biến đổi, ác luân hồi” (2) trên đất nước này đã từng đầy đọa lương tri Trần Độ, nay lại vò xé lương tâm Trần Nhơn:

Một thời Đảng cuốn hút hồn tôi,
Đảng ấy dường như biến mất rồi!?
Dân chủ, tự do dìm xuống vực,
Độc tài toàn trị phất lên ngôi.

(Bão tố nổi lên rồi!)

Đảng xưa hội tụ lòng yêu nước, Nay là nơi mua bán chức quyền (?!) Thang giá trị, luân thường đảo ngược,

(Quốc sử “triều” ta)

Tuyên ngôn Độc lập mùa thu ấy, Dân chủ, nhân quyền gió cuốn bay. Chủ nhân ngập ngụa đời cua cáy, Đầy tớ xông xênh bổng lộc dày.

(Văn hóa lâm nguy)

Đất nước bốn ngàn năm lịch sử
Bao giờ bi đát thế này chăng?
Rắn nhiều đầu ôm chân quỷ dữ,
Cầm tù lòng yêu nước nhân dân.

(Loạn luân chính trị)

Ông vò đầu suy nghĩ, cố tìm cho được cái nguyên nhân nào đã tạo sự xót xa cay đắng đẩy dân tộc mình vào bao nhiêu cuộc chiến để rồi:

Mười thập kỷ “thắng” trong đại bại, Đất nước “trường tồn” trong đại vong!

(Chào Xuân Mới Nhâm Thìn)

Khác với nhiều người, trút hết tội lên đầu Các Mác, ông chỉ đích danh: Lênin mới chính là tội đồ, bởi vì:

Lê nin mượn Mác làm nền tảng,
Chế thành tà đạo phản nhân văn.
Cuồng say bạo lực, siêu quyền Đảng,
Xây nhà tù lớn nhốt nhân dân.

Dẹp quân chủ, xây nền đảng chủ,
Siêu quái thai lịch sử loài người.
Stalin, Mao Trạch Đông… đao phủ,
Hậu duệ Lênin tiếng để đời.

(Có chủ nghĩa Mác-Lênin?)

Đệ Nhất Quốc tế với sự tham gia của Mác qua năm kỳ đại hội vẫn chỉ thông qua các nghị quyết: tán thành bãi công, thành lập công đoàn, đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, đòi cải thiện đời sống công nhân. Nhưng đẩy Mác vào vòng máu lửa, Lênin thành lập Đệ Tam Quốc tế với cương lĩnh hoạt động là đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, thiết lập chuyên chính vô sản, mà theo Trần Nhơn thì:

Quốc tế Ba quái thai chính trị,
Mưu toan nhuộm đỏ cả hành tinh.
Lò chuyên chính vô luân phi nghĩa
Chôn sâu rồi mùi vẫn hôi tanh!

(Đảng và cụ Hồ)

Nhìn lại một trăm năm “bách chiến”: Lênin tà đạo thật kinh hoàng!

(Chào Xuân mới Nhâm Thìn)

Cho nên Trần Nhơn đã kết tội:

Lênin tội ác tày trời,
Kéo lùi lịch sử về thời dân nô.

(Chôn vùi đảng trị vững bền nước non)

Và lên án cái nhà nước chuyên chính vô sản của Lênin:

Lập nhà nước chuyên chính vô sản,
Thực chất là vô học vô luân.
Độc tôn chính đảng thành băng đảng,
Lùa dân vào “địa ngục dương trần”.

(Khi quốc sách chìm trong quốc nạn)

Chuyên chính vô sản dẫn dến đảng độc tôn, đảng toàn trị làm cho chính đảng trở thành băng đảng, nhốt nhân dân vào địa ngục ngay trên trần thế. Cho nên, là “đảng viên cỡ bự”, được quyền cùng đảng ăn trên ngồi trốc nhưng, hơn ai hết, Trần Nhơn vô cùng căm ghét “toàn trị”. Ông nắm cổ nó mà rủa xả đay nghiến, bằng những “điệp khúc thơ” (3) liên hồi, như muốn gi nát nó dưới chân:

Toàn trị - loài buôn xương bán máu,
“Nhất tướng công thành vạn cốt khô”.
Vắt chanh bỏ vỏ bầy nô cẩu,
Mặt nạ rơi, hiển diện tội đồ!

Toàn trị kiêu căng và hợm hĩnh,
Coi trời bằng ... khuy áo, đầu đinh.
Nhưng không dám cạnh tranh bình đẳng
Giữa nghị trường đa đảng văn minh. (2)

Toàn trị xây đời nô lệ mới,
Bốn ngàn năm văn hiến lụi tàn.
Công nông, trí thức thành “tôi mọi”
Phò “hôn quân tập thể”, gian thần.

Toàn trị đánh cắp lòng yêu nước,
Loại trừ các chính đảng đồng hành. ¬
Nhập bọn cùng nội xâm, ngoại thuộc,
Ăn mày dĩ vãng, mãi hư danh.

Toàn trị - tập đoàn phi chính nghĩa,
Mị lừa dân cưỡng đoạt chính danh.
Là nỗi đau dài xuyên thế kỷ,
Chính quyền hay đạo tặc lộng hành?

Toàn trị chuyên ngón nghề tẩy não
Hiền tài thành bồi bút, văn nô.
Lời huyết lệ gửi vào di cảo,
Phẫn hận mang theo xuống đáy mồ.

Toàn trị giành độc quyền yêu nước,
I tờ nghề đối ngoại nhân dân.
Với chính sách lân bang khiếp nhược,
Được đằng đầu, lân tiếp đằng chân.

Toàn trị lún sâu vào tử huyệt,
Xây nhà tù lớn nhốt nhân dân.
Hình sự hóa ngàn lời tâm huyết,
Diệt ân công, bức hại trung thần.

Toàn trị đứng ngồi trên đống lửa,
Gã khổng lồ đầu rỗng, tim đen.
Chân đất sét, miệng hùm, gan sứa,
Sợ mặt trởi, chui rúc bóng đêm.

Toàn trị - Tổ quốc là phương tiện
Xây vương triều “còn Đảng còn mình”.
Bao giờ phận con giun, cái kiến
Dân lành nhìn ánh sáng văn minh?

(Toàn Trị – Một góc nhìn)

Ông gọi độc đảng, toàn trị là loạn luân chính trị:

Dân chủ, Cộng hòa hay Cộng sản...
Bất luận mang tên, nhãn mác gì,
Nếu xếp loại vào dòng độc đảng,
Ắt là loài toàn trị man di!

Toàn trị là loạn luân chính trị,
Đảng đè đầu, cưỡi cổ muôn dân.
Đè đầu Đảng – một vài “đồng chí”,
Đè lên “đồng chí” – lũ gian thần.

Đồng chí chỉ còn là... đồng lõa,
Gầm ghè, đấu đá, khử trừ nhau.
Rồi dàn xếp, điều đình, mặc cả,
Phân ngôi, chia ghế hưởng sang giàu.

Đảng? Nhà nước? - Chỉ là phương tiện
Xây vương triều chuyên chế độc tài.
Dân lành phận con giun, cái kiến
Trong “thiên đường nô lệ” tương lai.

(Loạn luân chính trị)

Cách mạng Tháng Tám thành công, ánh sáng nhân quyền mới ló rạng trong Tuyên ngôn Độc lập mồng 2 tháng 9 thì bóng đen toàn trị của ĐCSVN đã phủ đêm dày mịt mùng lên đất nước:

Nguồn ánh sáng nhân quyền Tháng Tám
Chìm trong đêm toàn trị mịt mùng.

(Bao giờ mới hết ngu lâu?)

Từ đấy:

Chuyên chính độc tài, kẹp kìm báo chí,
Nhất lập tam quyền, bóp nghẹt tự do.
Mặt nạ rơi, lãnh tụ hóa tội đồ,

Từ đấy:

Tám mươi triệu người chỉ viết lén, nói chay,
Chưa có nổi trong tay một tờ dân báo!
Mấy trăm lò “báo vẹt” như dàn đại pháo
Sẵn sàng khạc đạn vào công dân cô đơn.
Còng số tám (8), điều tám tám (88) chập chờn
Trong ác mộng, lúc trà dư, tửu hậu.
Chạy một vòng tròn bảy mươi năm tranh đấu,
Càng lùi xa vạch xuất phát ban đầu.
Báo tư nhân thời thuộc Pháp đa sắc màu:
Tiếng Dân, Ngày Nay, Nam Phong, Thanh Nghị;
Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí,
Tri Tân, Con Đường Chính, Khúc Tiêu Sầu

(Nỗi đau này ai có thẻ sẻ chia!)

Đánh đuổi thực dân Pháp để tròng lên cổ nhân dân Việt Nam một cái ách toàn trị còn hà khắc, nghiệt ngã hơn thực dân Pháp!

Đánh đuổi đế quốc nọ để lại rước con voi Đại Hán tàn tệ hơn kia về giầy mả tổ!

Thái thú đỏ độc quyền “yêu nước”,
Rước voi giày mả tổ cầu vinh.

(Khi quốc sách chìm trong quốc nạn)

Chui vào rọ bá quyền Bắc thuộc, Bán lương tâm, phụ chính phù tà. Phong thánh cho gian hùng mãi quốc,

(Quốc sử “triều” ta)

Đối ngoại nạm vàng mười sáu chữ,
Quỵ lụy, nâng bi, hiến đất đai.
Sa bẫy nên biến thành thái thú,
Hay cuồng si bám giữ ghế ngai?

(Chế độ nào giải Trung thoát Hán?)

Không đặng đừng được nữa với cái họa Bắc thuộc đã nhỡn tiền, Trần Nhơn khẩn thiết kêu gọi:

Phải bẻ gãy kim cô Bắc thuộc,
Độc tài toàn trị hậu Lê – Mao.
Tháo cạm bẫy “chữ vàng”, “bốn tốt”,
Đại quy Trí Dũng dẹp binh đao.

Không thể trông mong ở những người lãnh đạo trong sự nghiệp chống Bắc thuộc bảo vệ danh dự tổ quốc nữa rồi:

Đã trót "ngu lâu", sập bẫy rồi,
Tìm đường tháo gỡ thoát ra thôi!
Thành Đô (3) - cột mốc đen ô nhục,
Sử xanh còn lưu giữ muôn đời.

Phiêu, Mạnh cũng là Tổng... dở hơi, (“U mê”, “thiển cận” tựa Linh, Mười) Dại gái, tham quyền thay mốc giới, Tây nguyên bô – xít tội tầy trời!(4)

(Chào Xuân Mới Nhâm Thìn)

Là “mọt sách” Mác cùn Lê rỉ
Hững hờ với quốc nhục Thành Đô.
Câu Tiễn trường kỳ khổ nhục kế,
Hay “đầu sai” Mao Đặng Giang Hồ?

(Nghĩ về Nguyễn Tấn Dũng và... thời cuộc)

Ông kêu gọi phát động chiến tranh nhân dân để bảo vệ biển đảo:

Mở mặt trận chiến tranh nhân dân,
Mười vạn ngư thuyền cảm tử quân.
Bám biển giữ vẹn toàn lãnh hải,
Noi gương Tàu – Không - Số anh hùng.

Giặc “mười sáu chữ lừa, bốn đểu”
Đến biển nhà, ngư phủ ra tay.
Hợp đồng quân chính qui tinh nhuệ,
Ắt xua tan hải tặc cướp ngày!

(Chế độ nào giải Trung thoát Hán?)

Trước thảm cảnh nhân dân rên xiết mãi trong quốc nạn và ngoại tặc:

Đất nước chìm trong tổng khủng hoảng,
Chui sâu vào cạm bẫy Bắc Kinh.
Tham nhũng, quan liêu thành quốc nạn,
Bão lòng, bão giá, bão ...niềm tin.

(Ai tái cấu trúc ai?)

Trần Nhơn nén một tiếng thởi dài:

Sầu thế kỷ suốt đêm dài cay đắng,
Mỏi mòn trông, thăm thẳm ánh bình minh.

(Ai tái cấu rúc ai?)

Và ngóng đợi:

Xã hội vào thời “cùng tất biến”,
Đợi đến khi nào “biến tất thông” ?

(Chế độ nào giải Trung thóat Hán?)

Trần Nhơn có bi lụy không?

Không, bởi vì ông đã nghe thấy và nhìn thấy:
.
Biển chỉ đường ở trong lòng ta đó,
Lời nước non giục giã: Dậy mà đi!
Khai trí, tu tâm, bắn phá sức ì,
Thôi khoác lác, lắng nghe lời bách tính.
(Sầu)

Ông cảnh báo và khuyên nhủ các nhà lãnh đạo:

Bớt vị kỷ, nâng tầm nhìn, bản lĩnh,
Hãy nói lời khôn trước lúc rớt đài,

(Sầu)

Cùng với Trần Nhơn, chúng ta tin rằng chế độ chính trị nào rồi cũng như chiếc áo cũ bục ra rơi xuống, chỉ còn lại nhân dân sẽ cường tráng và đẹp tươi hơn khi khoác lên mình tấm áo mới:

Chế độ ra đi, người ở lại:
Tầng lớp tinh hoa, biết dại khôn,

Trừ thiểu số “côn đồ chính trị”
Rước voi giày mả tổ cầu vinh,
“Người ở lại” đa mưu túc trí:
Chủ lực quân tái thiết “triều đình”.

(Chế độ nào giải Trung thoát Hán?)

Cũng như “Thơ Bút Tre”, “Hiện tượng Trần Nhơn” rồi sẽ được ghi nhận trong thi đàn Việt Nam. Và hơn thế, nỗi ưu thời mẫn thế vì đất nước, vì dân tộc tấu lên thành thơ của Trần Nhơn sẽ được tri ân.

Ghi chú:

(1) Tướng Nguyễn Chánh (1914 – 1957), người Quảng Ngãi, năm 1945 lãnh đạo đội du kích Ba Tơ. Năm 1954 là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
(2) Thơ Trần Độ
(3) Không chỉ là nhà khoa học, nhà lãnh đạo, Trần Nhơn còn là nhạc sỹ có hạng với trên 30 ca khúc, trong đó nhiều ca khúc đã đi vào lòng người: Biển gọi hè về, Hà Nội mến yêu ơi, Khúc hát người xây dựng, Mùa xuân Tây Nguyên, Nhịp điệu Trị An, Nhớ về đất Tổ, Sông Đà mùa xuân …
Rút trong cuốn “ĐÊM DÀY LẤP LÁNH”

Nguyễn Thanh Giang
Mobi: 0984 724 165
Email: thanhgiang36@yahoo.com
Thư viện mạng: www.nguyenthanhgiang.com
-------------------------------------------------------------
* Tác giả gửi đến VANGANH.INFO
Read more…

Nguyễn Đình Chúc - Phạm Ngọc Thái có chân dung một nhà thơ tình của dân tộc

03:37 |

Qua hai tập thơ đã xuất bản: "Rung động trái tim", Nxb Thanh niên 2009 & "Hồ Xuân Hương tái lai", Nxb Văn hoá Thông tin 2012, có thể nói đó là cả một tuyển thơ dầy dặn có tầm vóc của anh. Để minh chứng cho luận điểm trên mà tôi đã nêu ra, trước hết mời Quí vị hãy đọc một số bích phẩm của anh trong bản viết "16 bài thơ tình hay của Phạm Ngọc Thái" đã được đăng trên nhiều trang mạng trong nước và thế giới. Mở theo link sau:
Chưa kể nhiều bài thơ tình khác của anh cũng rất hấp dẫn và súc tích, như: Thành phố mưa rơi, Thời áo trắng, Trước núi Mỹ Nhân, Người con gái sông xưa, một góc hồ Tây, Em về biển, Đêm tóc đá, Trăng lặn, Sáng thu vàng, Anh vọng nghe tiếng em hát bên hồ... hay những bài thơ đời sâu sắc: Cô quét lá đêm hồ, Làm ma em vợ, Em bé cầu bơ, Chiều hoàng hôn, Nỗi trăn trở người đi tìm vàng...

Chưa từng có thi nhân nào viết được nhiều thơ tình hay đến thế! Để có thể khái quát được vóc thơ tác giả, lại xin mời hãy tham khảo một trang với tiêu đề: "49 tình thơ sâu sắc của Phạm Ngọc Thái", qua link:

Thi ca Phạm Ngoc Thái dù là thơ tình hay thơ đời, những bài đã đạt độ viên mãn về ý tưởng nhân văn và ngôn ngữ nghệ thuật, mức độ hay của mỗi bài khác nhau nhưng những tình thi có thể cảm hoá được trái tim những người yêu thơ là rất nhiều.

Về bút pháp nhiều bài thơ tình của anh đã được hoà trộn trong khuynh hướng của dòng thơ tượng trưng hiện đại châu Âu cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, mà điển hình là thuyết "tương ứng cảm quan" của nhà thơ tượng trưng bậc thầy Charles Baudelaire (1821-1867) lúc đó chủ xướng. Thí dụ trong bài thơ Người đàn Bà Trắng ở tập "Rung động trái tim", anh viết:

Chiếc mũ trắng mềm em đội bàu trời
Khóm mây trắng bay nghiêng trôi trên tóc
Đôi mắt em đong những áng mây
Người đàn bà trắng!

Hay là:

Em không biến thành đá để hoá Vọng Phu / Anh cũng không làm chàng Trương Chi suốt đời chèo sông vắng
Ta không đi theo Con Đường Lông Ngỗng Trắng / Dẫu hình hài khắc mãi tim nhau! / Vết thương lòng không dễ đã lành đâu
Những đêm sao buồn, những đêm gió khát / Khúc thơ tình anh lại viết về em! / Người đàn bà ngậm cả vầng trăng...

Như trong lời bình của chính tác giả ở tập Rung Động Trái Tim:

- Mối tình của nhà thơ với NĐBT cũng chỉ là một bi kịch tình. Vết thương trái tim đôi trai gái ấy tháng năm vẫn không hàn gắn lại được, nhưng cái "Con Đường Lông Ngỗng Trắng..." mà nàng Mỵ Châu đã rắc cho chàng Trọng Thuỷ theo, thần tượng thì rất đẹp... để cuối cùng chàng cũng nhảy xuống biển mà chết, hoá thành ngọc trai giữ tình son sắt với nàng. Nó bi ai quá! Cái hay của khúc triết lý trong bài thơ NĐBT là nó đã được viết như đời.

Trong tấn bi kịch tình yêu ấy: dẫu mối tình bị tan vỡ phải chia lìa năm tháng, nhưng tình thơ đã không kết thúc bằng sự bi thảm một định mệnh - Đôi trai gái vẫn phải sống và tồn tai, dù là theo chiều gió cuốn của cuộc đời!... Phải chăng đó cũng là một cuốn tiểu thuyết "cuốn theo chiều gió" như bao bi kịch Tình - Đời trên bờ bến nhân gian? Cả đoạn thơ thấm đẫm tình bật ra trong đời sống đầy mất mát và đau đớn của tình yêu.

Hoặc như bài Sáng Thu Vàng, có những đoạn thơ tượng trưng tả về người đàn bà đẹp, hay tới mức điển hình:

Phảng phất trên đầu đôi nét phôi pha / Đôi mắt em bóng trúc bay xoà...
Đường phúc hậu vầng trăng đầy nở... / Nghe không gian đổ vỡ cả mùa thu!

Nghĩa là, đôi mắt nàng huyền diệu mơ màng như bóng trúc phủ và nàng phúc hậu dịu dàng tựa vầng trăng, đến cả mùa thu cũng phải đổ vỡ dưới chân nàng. Hay là:

Môi em cười, hoa lá nát đau thêm...

Đến hoa lá còn phải nát đau dưới đôi môi của người đàn bà, thì mới biết nàng đẹp và có sức cám dỗ đến thế nào. Khi anh tả về nỗi cô quạnh vì vắng bóng người yêu:

Thiếu vắng em nên anh lẻ bóng
Lá vàng rơi thay vào chỗ em ngồi...
(Một góc hồ Tây)

Hình ảnh chiếc lá vàng rơi đúng vào chỗ ngồi của người con gái năm xưa, nó đằm thắm mà xót xa, gợi về một mối tình đã qua. Cảnh rất đời và chứa chất để tạo thành câu thơ hay. Còn trong bài "Em về biển" thì hình tượng về tình yêu đã đạt đến điểm đỉnh của sự thánh thiện và mang tính triết học:

Bờ bãi đời người - Cuộc sống tình yêu
Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân phật-tổ!

Nghĩa là tình yêu đã đưa ta đến cõi nát- bàn. Anh đề cao tình yêu trong chốn dân gian, nơi "bờ bãi đời người..." - xét tưởng khó có thể tìm thấy một biểu tượng tình yêu nào cao hơn thế, để rồi thơ được kết thúc trong nỗi khắc khoải của cuộc đời:

Tóc nửa bạc rồi chỉ thấy gió mưa bay...
Tóc nửa bạc rồi tình vẫn đó, em ơi!

Hình ảnh đầy xúc cảm đó đưa ý nghĩa của bài thơ viên mãn đến tột điểm.

Trong bài thơ tình "Hàng cây lá đổ" chỉ bằng hai câu mở đầu đã ôm trọn cả một khoảng không gian, thời gian cùng với nỗi niềm ly biệt của tình yêu:

Thế là hết! Em đi, chôn chiều vào gió
Ta lang thang qua lá đổ hàng cây....

Hình tượng "chôn chiều vào gió..." nó biểu thị một nỗi tình sâu lắng với bước chân lang thang của người thi sĩ dưới một bàu trời hoang vắng, cô đơn. Ngôn ngữ thi ca có thể đặt ngang những câu thơ hay trong thi đàn.

Còn bài thơ "Thời áo trắng", tác giả nhớ về mối tình thuở ban mai. Có lẽ đó là tình yêu của anh trong thời còn sinh viên, vào một đêm trăng nào đó cùng ngồi học bên người bạn gái:

Ôi, yêu dấu cái thời còn cắp sách / Mắt em cười mùa thu xanh lên
Những buổi chúng mình tìm ánh trăng để học / Tà áo trắng động vào... khe khẽ nát tim anh!

Đó là những cảm giác yêu đầu tiên trong cuộc đời. Tâm trạng vừa xao xiết, bồi hồi, trái tim lại như muốn... vỡ tan!

Tà áo trắng động vào... khe khẽ nát tim anh! /- Là hình ảnh của câu thơ hay, gợi cảm... lắng sâu vào âm hưởng trong đó có thể làm tâm hồn ta run rẩy, để rồi với nỗi lòng khắc khoải, quặn xiết của tác giả muốn níu kéo lại cái thời xa vắng ấy:

Trả lại cho anh một thời áo trắng
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn!

Những âm thanh ta không nghe thấy nhưng nó lại rền xiết trong trí não ta, như bão gió tình yêu của buổi đầu đời. Hầu như bài thơ nào của Phạm Ngọc Thái cũng muốn đẩy tình thơ đến tột cùng.

Ở bài "Thành phố mưa rơi" - Thành phố mưa thì ít nhưng lòng tác giả lại mưa nhiều hơn, thậm chí còn bão nữa... khi trái tim anh nhớ đến người yêu:

Gió nhè nhẹ! Em ơi, mưa nhè nhẹ! / Chỉ riêng lòng anh bão không thôi
Cứ để hồn anh trong nước lạnh / Với màu mây hoang trôi đến xa vời...


Trong "chùm thơ tình mưa" anh còn có cả bài sáng tác vào một đêm... không mưa - Nhà thơ nhớ lại một mối tình "gió mây", xúc cảm trong lần gặp gỡ cuối cùng trước khi người yêu đi... lấy chồng! Anh viết:

Mùa thu đã qua ta nghe lá rụng / Buổi cuối cùng em đến để chia tay
Ngày mai em lấy chồng phải xa vĩnh viễn / Chẳng sao mà, trời có mưa đâu, em ơi?


Đó là bài "Đêm nay trời lại không mưa" - Dẫu là tình gió mây... nhưng thơ rất trong sáng và tha thiết:

Kìa không mưa mà áo anh lại ướt / Mùa thu đi sao nắm mãi bàn tay?
Ai nói tình gió mây sẽ quên trong chốc lát / Bao năm trời hồn anh vẫn mưa bay...


Nhưng hay nhất là đoạn thơ cuối, chỉ cần đọc những câu thơ này cũng đã làm ta yêu say thơ Phạm Ngọc Thái rồi:

Ta lại bước lang thang trên phố ấy / Đến mỗi gốc cây có vệt cũ em ngồi / Tiếng hát xưa đưa bờ hồ gió thổi
Bóng với mình đi mãi tới ban mai / Cứ tưởng buổi cuối cùng em đến… đã chia tay?


"Chùm thơ tình mưa" là một chùm thơ khá nổi tiếng của anh. Xin giới thiệu lại với bạn đọc cùng với hàng loạt các chùm thơ khác như: Chùm thơ áo trắng, chùm thơ tình mùa thu, Thơ tình sông hồ, Thơ tình thời con gái, Thơ tình viết dưới cây, Tình yêu và đàn bà, Thơ tình trong trăng, Chùm thơ tình biển, Tình chiều hoàng hôn... Hầu như chùm nào của anh cũng có bài thơ hay xuất sắc. Bạn đọc có thể thưởng lãm một số chùm thơ đó qua link sau:  Thơ tình trong mưa  -  Chùm thơ Phạm Ngọc Thái - haiphong.net.vn

Phần lớn thơ tình của Phạm Ngọc Thái là tình chia ly và tan vỡ, tác giả nuối lại những kỷ niệm xưa. Cũng chẳng rõ với hàng trăm bài thơ tình như thế xuất phát từ bao nhiêu mối tình, với bao nhiêu thiếu nữ hoặc những người đàn bà trẻ?... Chỉ biết là bài thơ tình nào, dù là kí ức về thuở ban mai hay tình buổi hoàng hôn khi nhà thơ đã bước vào buổi hoa niên, cũng thật tha thiết và tiếc nuối. Có lẽ có thể nói thế này:

Nếu thời tiền chiến ta đã có một Xuân Diệu, thì nay lại có một Phạm Ngọc Thái - Anh có chân dung một nhà thơ tình lớn của dân tộc, một nhà thơ tình hiện đại sâu sắc.

Xin trở lại với một số bài thơ tình hay của anh in trong tập "Hồ Xuân Hương tái lai" vừa mới xuất bản - Nếu ở trong bài Con Đường Phượng Đỏ là bài thơ mà tác giả nhớ về mối tình với một người sinh nữ đã xa xưa, dù chỉ là hoài niệm nhưng vẫn chứa chan tình đời:

Con đường tình đẫm giọt sương rơi / Gió vẫn xạc xào vi vút thổi
Giá hồi ấy chúng mình lấy nhau rồi sinh năm đẻ bảy / Thì đâu còn phượng để anh ru?

Một nữ nhà giáo khi bình bài thơ này của anh, đã viết:

"Bài thơ rất đáng yêu... Tôi hình dung thấy bước chân anh đang lang thang trên cái hè phố nhỏ có hàng phượng vĩ, con đường mà anh vẫn cùng người thiếu nữ năm nào dạo bước bên nhau:

Em mang màu phượng đỏ ra đi...
Anh tha thẩn dọc hè phố nhỏ
Nơi kỉ niệm của mối tình sinh nữ
Xác ve còn bám ở thân cây

Hẳn đó là những ngày tháng tươi đẹp và hạnh phúc của đời anh. Cô sinh nữ kia chắc cũng phải xinh xắn lắm? Nghe anh mô tả, những kỷ niệm êm đềm từ thưở còn con gái, dù đã xa xôi cứ dồn về làm nghẹn trái tim tôi... "

Và chị kết luận: " Bài thơ giàu cảm xúc, ý tình thanh nhã, hình ảnh rất mộng mơ. Bút pháp tuy bình dị nhưng ngôn từ vẫn mang vẻ đẹp mỹ học, cùng với ý nghĩa thi phẩm mà tạo thành bài thơ hay, có thể làm rung cảm trái tim người".

Bài thơ Cô Áo Trắng - tác giả còn đi sâu vào tả cả thế giới bên trong thân thể người thiếu nữ mà thơ vẫn không kém phần hoa mỹ:

Đêm Sài Gòn khi ấy sẽ như mơ / Em bọc trong anh không cần quần áo /
Ôi! Nguyệt của em đây một động sâu huyền ảo / Chứa cả thiên đường và vũ trụ bên trong
Em đừng hỏi vì sao anh yêu em!

Rồi anh dùng cả thiên nhiên làm hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp và đầy sức cám dỗ của nàng:

Anh lại có một cô áo trắng / Vào buổi hoàng hôn hoang vắng cuộc đời
Đôi mắt nàng cả trời thu đẹp lắm / Bàu vú nàng mùa hoa trái sinh sôi...

Đôi mắt thiếu nữ như một trời thu còn bàu vú thì sinh sôi cả một mùa hoa trái - Cảm xúc trong thơ Phạm Ngọc Thái vẫn đời mà sinh động của thứ ngôn ngữ hình tượng mang màu sắc triết học, như có ma lực có thể làm xao động trái tim người.

Phạm Ngọc Thái có nhiều bài thơ tình đẹp được viết ở hồ Tây. Hầu như bài nào cũng có một hương sắc riêng hoà trộn giữa cảnh sắc thiên nhiên và dấu ấn của tình yêu vào đó. Như ở bài "Một góc hồ Tây" đã nói trên, anh còn viết:

Chiều lễnh loãng bóng đa gù bên phố / Mõ chùa buông thay tiếng nói của tình yêu /
Trong sân gạch sư già quét lá / Bước người đi thầm lặng cõi hư hao...
Chiều hồ Tây - Chiều Tây hồ lộng gió / Ta và Người cõi mộng khác chi nhau
Ngưòi quên hết! Còn ta yêu tất cả / Trong tiếng lá bay chầm chậm bóng ta theo...

Cái cảnh chiều lễnh loãng cùng với nỗi lòng chơi vơi, hiu hắt của con người đang bước vào tuổi hoa niên quạnh vắng, bên cây đa gù cùng với bóng nhà sư đang quét lá ở sân chùa... làm cho bài thơ tình chiều phố đầy mùi kinh kệ. Đúng như câu thơ anh đã viết: Mõ chùa buông thay tiếng nói của tình yêu /- Cũng như chính tâm hồn hư hao của tác giả trong những tiếng lá rơi chầm chậm, buồn buồn...

Bởi vì anh cùng với gia đình sống ở ngay bên hồ Tây đó, cho nên những sớm hồ lung linh ánh nước và những chiều sóng vỗ... đã gắn bó trái tim nhà thơ với những kỷ niệm yêu thương trong cuộc đời. Một bài khác anh viết:

Anh ở hồ Tây mênh mông sóng vỗ / Vẫn thấy bóng em trong màu hoa thương nhớ
Ôi, màu hoa son sắt trái tim em / Cái màu tím buồn của những cuộc ly tan!
(Anh vẫn yêu màu hoa tím buồn)

Nhưng bài mà tôi muốn nói nhiều hơn ở đây là bài Anh Vẫn Ở Bên Hồ Tây, một bài thơ tình hay của tập "Hồ Xuân Hương tái lai", tuy hình ảnh thơ rất chân thực nhưng vẫn cô đúc, dường như trên mỗi dòng thơ đều có máu tim của nhà thơ đang rỏ xuống:

Thế đó, em ơi! Tình qua không trở lại / Xế chiều rồi mà máu tim chảy mãi không thôi
Em có nghe gió Tây Hồ đang thổi / Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi...

Bài thơ chỉ có 16 câu với 4 khổ thơ, được viết vào lúc cuộc đời tác giả đã về chiều. Cũng là mối tình nhớ lại với một người sinh nữ. Có lẽ lúc đó vết thương tình đã làm cho lòng anh đau nhói, anh viết:

Ta cũng già rồi, em ơi! Vết thương còn đau buốt / Hạnh phúc qua như một cánh chim bay
Nông nỗi đời người để đâu cho hết / Tình thơ ngây... tình sao mãi thơ ngây...

Và anh đứng bên bờ hồ Tây gió thổi, mây bay... bồi hồi nghe tiếng của lòng mình đang trỗi dậy thưở còn tình yêu tuổi trẻ. Hình tượng thơ khắc họa trong câu cuối cùng: Anh ở đây, vẫn bên hồ Tây mây trôi.../- Những làn mây trôi kia không chỉ là cảnh vật thiên nhiên mà nó còn biểu thị cho cả khoảng thời gian đang qua và không gian hoang vắng - Đó chính là thứ ngôn ngữ thi ca rất hàm súc và giàu tính biểu tượng của Phạm Ngọc Thái. Hoặc như câu: Hạnh phúc qua như một cánh chim bay / - Nói lên niềm vui ngắn ngủi, thoảng chốc đã không còn. Khi tả về hình bóng người con gái đã xa xưa nay chỉ còn trong ký ức, anh viết:

Người con gái anh yêu nay hoá khói sương tan

Để biểu thị cho sự chìm lấp của thời gian đã trôi vào quá khứ.

Trong những bài thơ tình hay, có một bài viết về người vợ trẻ vào những ngày tháng anh xa quê sống ở nước ngoài làm kinh tế. Đó là bài: Tiếng Hát Đời Thường - Cũng chính là bài thơ về quê hương. Hình tượng mà người ra đi ở phương trời xa lòng thổn thức nhớ chốn quê. Bài thơ được viết như một truyền thuyết:

Trong một phố nghèo có người vợ trẻ / Vẫn đón con đi , về ...như thường lệ
Vóc em thanh cũng thể mùa xuân / Đôi mắt em, đôi mắt ấy màu đen


Những hình ảnh được gợi lên thân thuộc nhưng vẫn mang tính điển hình, khái quát mà thơ vẫn nhuần nhụy dễ thương. Thí dụ như khi anh tả về gia đình:

Ngôi nhà nhỏ bên đền / Gốc đa, quán báo/ Nơi ngày xưa ai bán chiếu gon (*)
Đêm hồ nước trăng soi / Chiều lá me, lá sấu / Cung thành xưa dấu đại bác còn... (*)

(*) Hình ảnh gợi lại câu chuyện của bà Thị Lộ thời con gái đi bán chiếu gon ở hồ Tây đã gặp ông Nguyễn Trãi... và những vần thơ đối đáp giữa hai người còn truyền tụng đến ngày nay. Hay là hình ảnh cả cung thành Thăng Long Cửa Bắc của cố đô xưa vẫn còn in dấu đạn đại bác từ thời giặc Pháp bắn vào, thành Thăng Long thất thủ, quan Tổng đốc Hoàng Diệu phải thắt cổ để tuẫn tiết.

Một bức tranh quê, tiết tấu thơ đầy chất trữ tình đem theo những hình ảnh cuộc sống thường ngày xúc động trong kí ức nhà thơ :

Ôi quê hương! / Cái phố nhỏ cứ mưa là lầy lội / Cháu gái nhà bên tuổi không đoán nổi
Chưa tối đã khêu đèn bê mẹt thuốc rao đêm / Ngày hai bữa, bữa nào cũng vội.

Chính ở nơi ấy, có người vợ trẻ và con anh đang chờ anh trở về. Bài thơ được kết thúc với tiếng lòng thao thiết trong chốn dân giã ở cố hương. Cái "tiếng hát đời thường" của nhà thơ được cất lên là hình ảnh cuộc đời, hiện thực và chắt lọc:

Con sẻ hót mênh mông đồng nước / Người hát rong hát vui sân ga
Tiếng Hát Đời Thường thường lẫn vào bụi cát
Anh hát cho đời...
Anh hát em nghe...

Nó như khúc dạo của người hát rong trên sân ga, tiếng rao của em bé bán báo. Nhà thơ ví như tiếng của con sẻ mênh mông trên đồng nước... để rồi lẫn vào trong cát bụi cuộc đời. Bài thơ hay, cảm xúc chân thực. Có thể nói, máu và nước mắt của nhà thơ đã rơi lên trang giấy khi viết bài thơ này. Anh tả về hình ảnh người vợ ở quê:

Ai biết chiều nay người vợ trẻ
Đứng mong chồng bên đứa con thơ
Giọt lệ cháy xót lòng mang sắc xanh thu...

Để rồi tác giả tự nhắn nhủ với lòng mình và nói với đời, thơ như khúc hát đồng dao:

Tuyết bạc quê người... xứ sở mưa cau...
Đi đâu, đến đâu: Nhớ về phố ấy!

Phạm Ngọc Thái đã để lại cho đời một tình thơ quê hương súc tích.

Tôi định viết thêm một mảng thơ đời của anh, như thế thì bài viết sẽ dài. Hơn nữa, ở đây tôi tập trung nêu lên vấn đề "Phạm Ngọc Thái có chân dung một nhà thơ tình lớn của dân tộc", cho nên chỉ xin bình thêm một bài thơ nữa của anh, đó là bài Em Bán Xoài - Một bài thơ nói là thơ tình cũng được mà thơ đời cũng được, tác giả viết đầy xúc cảm riêng tư song lại rất sâu sắc trong cõi trần ai, trước thân phận nổi trôi của các cô gái bán xoài mà anh đã gặp bên bờ biển Nha Trang. Những cô gái bán xoài ấy, đó là những kiếp đời cát bụi phải bán cả linh hồn lẫn thần xác mình để sống:

Em bán xoài đi đêm trên cát vắng / Bãi biển chập chờn kiếp đời các cô gái lang thang
Dưới hàng dừa se sẽ gió ru êm / Dãy cột đèn đứng đêm côi lạnh...


Những đoạn thơ diễn tả vừa đan xen thân phận bọt bèo vừa bao quát cả tính nhân tình thế thái. Ta hãy đọc một đoạn anh viết về em bán xoài đó:

Xoài em chín, đêm tàn canh em đón khách / Giọt thơ buồn như ngọc sương rơi
Em bán xoài thơm!... Em bán xoài thơm!.../ Biển to lớn - Bóng em nhỏ thẫm
Linh hồn treo ngoài thế giới em đi / Trên những cành dừa hay trong đám mây qua?


Cái thế giới đó chính là chốn nhân quần, xã hội mà các cô gái đang đi, đang sống ở đó. Sao nó thật hãi hùng? Linh hồn của các cô thì vất vưởng ở ngoài thế giới con người, có thể nó vương trên những cành dừa quê hương hay vơ vất trong một đám mây nào đó - Những hình tượng thơ khắc hoạ để nói về nỗi kiếp bọt bèo. Đó cũng chính là những hình tượng cho thân phận thấp hèn chốn dân gian. Hoặc một đoạn khác:

Thế giới em đi "vòng thiên la địa võng" / Tóc còn xanh em bán kiếp đời trôi
Xoài em thơm, hương toả mát thân người / Ai mua xoài? Còn ai có mua em?


Có thể nói "Em bán xoài" là một bài thơ tình khá điển hình về kiếp đời lang thang. Nó vừa trộn hoà tình yêu đồng loại của tác giả trong chốn nhân quần, vừa là cảm xúc của nhà thơ trước một cô gái bán xoài nào đó mà anh gặp gỡ. Thơ vừa thân yêu mà xa xót, từ những hình ảnh hiện thực chuyển sang màu sắc tượng trưng và triết lý, thậm chí có chỗ ngả sang cả thơ siêu thực... như ở đoạn kết anh viết về thân phận của những người con gái đó:

Các cô gái đi đêm như các cột đèn
Bóng nuốt lẫn vào bờ cát ấy...


Nghĩa là sự tồn tại của các cô gái bán xoài ấy cũng chỉ vật vờ như cát bụi. Đó là những thân phận lạc loài, linh hồn gần như là không có nơi bám víu, sống hôm nay không biết đến ngày mai. Sau đó tác giả trở về với lời ru của anh cùng hàng dừa quê hương quanh các cô gái bán xoài:

Biển ru ta và ta ru em
Dưới hàng dừa xứ sở gió ngàn năm...


Cảm xúc thơ được hoà trong mối giao cảm giữa đất trời và cuộc sống con người, khúc triết mà tạo thành bài thơ hay.

Chỉ với thơ tình, rồi mai sau Phạm Ngọc Thái cũng phải có cả trăm bài đứng trường cửu được với đời, trong đó có tới vài chục tình thi của anh đạt vào những cung bậc của các tầm thơ hay vô giá. Phạm Ngọc Thái thực sự là một hiện tượng thơ ca hiếm có ở đương đại này.

Tôi xin dừng bài bình luận của mình ở đây. Mong rằng với thời gian, chân dung và tầm vóc thi ca của anh sẽ được đời đánh giá đầy đủ hơn.

Quí vị có thể thưởng thức 298 tình thơ với thi phẩm dày 400 trang sách của tác giả - Qua tập "Hồ Xuân Hương tái lai", Nxb Văn hoá Thông tin 2012 - theo link tại đây: "Hồ Xuân Hương tái lai" Phạm Ngọc Thái...

Nguyễn Đình Chúc
-----------------------------------
Bài do tác giả gửi - VANGANH.INFO Biên tập và minh họa
-----------------------------------
Read more…

Phạm Hồng Sơn - Hơn hai sai lầm nguy hiểm của ông Nguyễn Trần Bạt

13:02 |
Cách đây vài ngày, sau khi báo Nhân dân đăng bài “Xã hội dân sự”- Một thủ đoạn của diễn biến hòa bình”, có một bài viết truyền tải trên mạng với nhan đề “Về xã hội dân sự tại Việt Nam” với ghi chú là “Ông Nguyễn Trần Bạt trả lời phỏng vấn Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ.”[i] Đọc bài này tôi thấy xen kẽ những điểm tích cực, có lợi cho xã hội và người dân là những ý kiến, quan điểm không đúng, nguy hiểm cho tiến bộ xã hội hiện nay. Sau đây là một vài điểm nguy hại đó:

Về nhà nước toàn trị

Nguyễn Trần Bạt. Photo giaoduc.net.vn
Ông Nguyễn Trần Bạt phát biểu: “Và đến bây giờ, tôi kết luận là: không có bất kỳ nguy cơ nào về mặt chính trị cho các nhà cầm quyền, cho Đảng Cộng sản Việt Nam và cho chính phủ Việt Nam khi chúng ta có một xã hội dân sự lành mạnh. Ngược lại, nó gỡ cho họ những gánh nặng khủng khiếp trong việc bành trướng cơ cấu nhà nước để tổ chức quản lý xã hội, cái mà nhiều người không thiện chí gọi là toàn trị. Tôi cho khái niệm toàn trị là một khái niệm thuần tuý lý thuyết. Xã hội chúng ta thực ra cũng không toàn trị. Các nhà lãnh đạo của chúng ta không có ai toàn trị.” (Phần tô đậm là tôi nhấn mạnh.)

Tôi không hiểu tác giả Nguyễn Trần Bạt đã dựa vào lý thuyết, nghiên cứu nào khi nói đến khái niệm “nhà nước toàn trị” rồi đi đến kết luận rằng “Xã hội chúng ta thực ra cũng không toàn trị. Các nhà lãnh đạo của chúng ta không có ai toàn trị.

Về khái niệm toàn trị hay nhà nước toàn trị, thiết nghĩ hiện nay đã có rất nhiều thông tin khả tín được công bố, cập nhật trên mạng. Ở đây tôi xin sơ lược thêm về một nghiên cứu về khái niệm toàn trị (totalitarism, totalitarisme) trong cuốn Histoire Politique Et Sciences Sociales.[ii] Khi đề cập đến khái niệm toàn trị (concept de totalitarisme) các tác giả đã có sự tìm hiểu, đối chiếu giữa các chế độ phi dân chủ khác nhau như chế độ chính trị của Hitler, chế độ chính trị của Mussolini, chế độ Liên bang Xô-viết dưới thời Stalin, chế độ Vichy tại Pháp. Mặc dù các tác giả không thể đưa ra được một định nghĩa thống nhất cho khái niệm toàn trị nhưng từ những nghiên cứu, tranh luận đó có thể rút ra kết luận là một chế độ toàn trị không thể thiếu hai đặc tính (yếu tố): 1. Sự khống chế của nhà nước đối với xã hội dân sự thông qua các biện pháp như tuyên truyền, trấn áp, kiểm soát kinh tế, xã hội và tinh thần (đạo đức); 2. Sự thu hẹp mức độ tự lập, tự trị của xã hội (kể cả ở nghĩa văn hóa và khả năng đối phó trong tình trạng thiếu thốn.

Còn đây là một nhận định cụ thể hơn về chế độ toàn trị trong cuốn sách đó:
Sự khủng bố (kiểu) toàn trị tiêu trừ hành động chính trị chắc chắn hơn là sự đe dọa (nỗi sợ) ngự trị trong các chế độ độc tài ‘cổ điển’. Các đặc điểm chính để phân biệt giữa độc tài và toàn trị: nỗi sợ độc tài khiến người ta phải câm lặng (sự im lặng chỉ có tính cá nhân) trong khi đó sự khủng bố toàn trị bắt người ta phải thừa nhận, ca tụng không ngừng và chán ngắt về ý thức hệ tới mức làm cho mọi ngôn từ, khả năng lên tiếng phải hư hỏng, sụp lạy vào lòng hệ thống – một không gian đóng kín trong sự bao trùm của sự im lặng vô nhân. Toàn trị là sự vắng mặt lý tính, sự vắng bóng ngôn từ chính trị sống động thúc giục hành động. Vẫn còn nữa, khác với dân chủ được coi luôn đi cùng với sự phát biểu tự do và không gian công cộng rộng lớn, toàn trị là sự gom tập con người ép chặt nhất. (Nói như Primo Levi: “Chúng tôi không có khe hở để suy nghĩ.”)” [iii]
Mặc dù nhận định “Xã hội chúng ta thực ra cũng không toàn trị” của ông Nguyễn Trần Bạt đã tự cho thấy không phải là một khẳng định mạnh mẽ và việc xếp loại chế độ chính trị của Việt Nam (về học thuật) có thể còn nhiều bàn cãi nhưng nếu chúng ta không (hoặc chưa) dám nói thẳng về bản chất độc tài của chế độ chính trị mà chúng ta đang phải sống lại còn xếp chế độ chính trị (nhà nước) đó ra khỏi phạm vi “toàn trị” thì, theo tôi, là một sai lầm nguy hiểm. Khi đó việc đi tìm phương thuốc chữa trị cho chế độ chính trị đó hoặc ước muốn thúc đẩy tiến bộ cho xã hội chỉ là việc làm vô ích hoặc một ước muốn đầy mâu thuẫn. Còn về nhận định “Các nhà lãnh đạo của chúng ta không có ai toàn trị.”, tôi chỉ xin trích dẫn lại ở đây một câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh: “Đảng phải lãnh đạo tất cả những tổ chức khác của nhân dân lao động.”[iv]

Thêm nữa việc ông Nguyễn Trần Bạt cho rằng những người gọi nhà nước Việt Nam là “toàn trị” là những người “không thiện chí” là một nhận định không chỉ hoàn toàn không chính xác về học thuật, vì (về học thuật) chỉ nên đánh giá một quan điểm là “đúng” hay “sai” chứ không nên đánh giá là “thiện chí” hay “không thiện chí”, mà còn gây nguy hiểm chính trị cho những người đó vì (về chính trị) nhà nước Việt Nam hiện nay vẫn luôn qui chụp những người bất đồng chính kiến, phê phán nhà nước là “thù địch” – nấc cao hơn của “không thiện chí”.

Về nhân quyền

Khi bàn đến vấn đề nhân quyền (quyền con người) ông Nguyễn Trần Bạt có đưa ra hai nhận định:

­Nhận định (1):Người ta tưởng rằng nhân quyền gắn liền với sự đòi đất, kêu oan, biểu tình, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Con người sở dĩ ăn vạ chính phủ là vì họ không có năng lực.

Chưa nói đến vấn đề học thuật và pháp lý (sẽ bàn cùng với nhận định (2)), thì quan điểm cho rằng những hoạt động, phản ứng của người dân như “đòi đất, kêu oan, biểu tình” là việc “ăn vạ chính phủ” và vì những người dân đó “không có năng lực” là một quan điểm phi thực tế và phi nhân quyền. Phi thực tế vì đa phần dư luận hiện nay đều chia sẻ, cảm thông và thấy rõ việc “đòi đất, kêu oan, biểu tình” là những việc làm đúng đắn, không đừng được của người dân trong tình trạng cùng cực, bế tắc. Phi nhân quyền vì “đòi đất, kêu oan, biểu tình” một cách ôn hòa đều thuộc nhân quyền cơ bản: “Quyền Tự do Thể hiện” (freedom of expression) đã được ghi rõ trong các văn bản nhân quyền quốc tế. Đây cũng là một nhận định hết sức nguy hiểm và phản lại những tiến bộ xã hội hiện nay. Nguy hiểm là vì quan điểm này có thể mở đường hoặc gợi ý sai lệch cho những người làm chính sách, cầm quyền quốc gia coi những phản ứng, bức xúc của dân chúng hiện nay đối với các bất công, tiêu cực là một hoạt động cần ngăn chặn, nghiêm trị vì họ là những người “ăn vạ”, lười biếng, “không có năng lực”.

Nhận định (2):Tôi đã có một kết luận rằng nhân quyền không còn là quyền chính trị, nhân quyền là quyền phát triển và chống lại rủi ro của cuộc sống.

Nhận định này nếu xem qua thì có thể cho rằng là một sáng tạo mở rộng về nhân quyền. Nhưng thực chất nhận định này lại làm sai lệch cho nhận thức về nhân quyền và nhận định này có hình thức giống như những gì mà các chế độ độc tài luôn bao biện cho việc vi phạm, cắt xén nhân quyền. Thứ nhất, căn cứ vào hai văn bản có tính phổ quát nhất về nhân quyền (Tuyên ngôn Toàn thế giới về Nhân quyền (năm 1948) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (1966) của Liên Hợp Quốc) thì nhân quyền phải và luôn bao gồm các quyền chính trị (quyền tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, v.v.). Có thể nói từ chối quyền chính trị hoặc coi “nhân quyền không còn là quyền chính trị nữa” đều đồng nghĩa với việc xóa bỏ nhân quyền. Bởi nhân quyền là một tập hợp các quyền cơ bản không thể tách rời hay thay thế. Thứ hai, việc cho rằng “nhân quyền là quyền phát triển và chống lại rủi ro của cuộc sống” là một quan điểm mập mờ và thoái hóa so với các công ước về nhân quyền đã nêu vì vô hình chung quan điểm này đã xóa mờ đi các nhân quyền đã được cụ thể hóa trong các văn bản có tính phổ quát toàn thế giới.

Có thể nói hai nhận định trên đây của ông Nguyễn Trần Bạt về nhân quyền không chỉ làm nhận thức về nhân quyền trở thành mập mờ khó hiểu mà còn đẩy lùi nhận thức về nhân quyền trở lại phía sau hàng chục năm.

Đó là hai điểm tôi cho là sai lầm nguy hại nhất (vì tính chất làm nền tảng cho nhiều nhận thức khác) trong bài viết trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Trần Bạt. Ngoài ra còn một số điểm sai lầm nguy hại khác như dưới đây.

Về chỗ đứng của nghiên cứu khoa học

Ông Nguyễn Trần Bạt phát biểu: “Nghiên cứu xã hội học tức là anh phải đặt mình vào địa vị của nhà cầm quyền, bởi vì bao giờ những nghiên cứu xã hội cũng phải bắt đầu từ lực lượng xã hội mạnh nhất, mà lực lượng xã hội mạnh nhất chính là các đảng chính trị cầm quyền. Vì nếu không xuất phát từ quyền lợi của các đảng chính trị cầm quyền thì các khái niệm tử tế không hình thành được. Cho nên phải đặt mình vào địa vị của họ để nghiên cứu cái mà mình muốn có hại gì cho họ không?

Điểm này đã tự thể hiện sai quá rõ về tính độc lập trong nghiên cứu nói chung nên tôi xin không phân tích thêm.

Về mức độ nguy hại đối với dân trí và tiến bộ xã hội tôi không chắc sự hơn kém giữa bài trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Trần Bạt và bài “Xã hội dân sự”- Một thủ đoạn của diễn biến hòa bình” đăng trên báo Nhân dân nói trên. Nhưng tôi chắc chắn nhận diện hay đấu tranh với một thứ giả hình, mập mờ bao giờ cũng khó hơn rất nhiều với một thứ đã bộc lộ rõ ràng, thẳng thắn.

© Phạm Hồng Sơn
Theo blog pro&contra
------------------------
Ghi Chú:
[i] Bài này đã đăng trên một số blog như Quê ChoaAnh Ba Sàm.

[ii] Histoire Politique Et Sciences Sociales. Chủ biên: Denis Peschanski, Michael Pollak, Henry Rousso, Editions Complexe, 1999. Trang 189-207

[iii] “La terreur totaliaire annihile l’action politique plus sȗrement que la crainte qui règne dans un gouvernement despotique “classique”. Retenons des traits essentiels de différenciation entre despotism et totalitarisme ceci: la crainte commande que l’on se taise (une stratégie individuelle du silence est toujours réservée, la terreur exige la proclamation incessante et mortifière de l’idéologie jusqu’au point où toute parole s’abîme au centre du système, c’est-à-dire dans le camp où règne une silence inhumaine. Le totalitarisme, c’est l’absence du logos, la parole politique vive présidant à l’action. C’est encore, par difference avec la démocratie qui suppose, avec la parole libre, l’espace publique, la plus extrême concentration des hommes dans l’espace. (Primo Levy, évoquant les “selections” de l’automne 1945 à Auschwitz écrit: “Nous n’avons pas l’éspace de penser””. Sách đã dẫn, trang 209.

[iv] Hồ Chí Minh với bút danh DX viết trong bài “Thường thức chính trị”, Nxb Sự Thật, 1954, in lại trong Chủ tịch Hồ Chí Minh với Công cuộc Xây dựng và Bảo vệ Tổ quốc, Nxb Công an Nhân dân, 2002, trang 115.
Read more…

Phát hiện động trời: “Thi Vân Yên Tử” của GS. TS Hoàng Quang Thuận là đạo văn !?

22:18 |
Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.
Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.


“THI VÂN YÊN TỬ” ĐƯỢC SAO CHÉP TỪ ĐÂU?


GS.TS Hoàng Quang Thuận
Tôi quen anh Hoàng Quang Thuận đến hay cũng gần hai mươi năm, đã từng cùng nhau đi chùa dâng hương lễ Phật. Một sự trùng hợp thật ngẫu nhiên, hai cặp vợ chồng chúng tôi đều cùng tuổi Quý Tị và Giáp ngọ. Thời đó, hai gia đình thường gặp nhau. Đã lâu lắm, do bận công việc nên không gặp nhau nữa. Nhưng tôi vẫn nhớ về anh, như một người bạn tâm tình.Khi anh viết xong và đem in 63 bài thơ trong tập ‘Thi vân Yên tử”, anh có nói chuyện với tôi về căn nguyên ra đời của các bài thơ ấy. Tôi cũng tin như vậy, vì tôi là người tin vào tâm linh, một niềm tin tự nhiên từ máu thịt của mình. Từ niềm tin ấy, tôi đã vô tư quảng bá tập thơ “Thi vân Yên Tử” với sự ra đời đặc biệt của nó với bạn bè. Nhưng hầu như, ai được tôi thông tin cũng chỉ cười mà không nói gì.

Tình cờ, khi lên Yên Tử, tôi vào quầy sách của Ban quản lý, thấy cuốn “CHÙA YÊN TỬ, LỊCH SỬ - TRUYỀN THUYẾT DI TÍCH VÀ DANH THẮNG” của tác giả Trần Trương, Trưởng Ban quản lý Yên Tử (1992-2003), tôi đã đọc ngấu nghiến bởi sự thôi thúc của tâm linh, một niềm tin bất diệt vào sự hiển linh của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Người Anh Hùng dân tộc và Đệ Nhất Tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Đọc xong cuốn sách, tự nhiên tôi có liên tưởng đến 63 bài thơ “Thiền” của anh Hoàng Quang Thuận và thật ngẫu nhiên, tôi phát hiện ra trong hầu hết các bài thơ anh Thuận viết, đều lấy từ nội dung cuốn sách này, thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương. Tôi sững người và liên tưởng tới điều anh Thuận nói về xuất xứ của 63 bài thơ được anh viết trong ba đêm với trạng thái như “nhập đồng”, như có “ai” đó, từ cõi cao xanh thúc giục anh phải viết. Tuy nhiên, vì là bạn bè, nên tôi cũng không nỡ trao đổi với anh, e anh tự ái rồi giận tôi. Vả lại, tôi coi đó là một niềm vui riêng của anh, niềm vui có thể chia sẻ trong phạm vi bạn bè, chẳng ảnh hưởng gì đến nhân tình thế thái. Thế rồi, năm tháng trôi qua, do bận công việc, tôi cũng không còn để ý đến điều đó nữa.

Mấy ngày gần đây, tôi được biết Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” đã thu hút rất nhiều người quan tâm đến dự. Có nhiều ý kiến xung quanh hiện tượng này với các lời khen, chê khác nhau. Đặc biệt, tôi được biết anh Hoàng Quang Thuận đã khiêm tốn mà nói rằng : Anh không phải là tác giả của hai tập thơ mà “đó là do tiền nhân mượn bút tôi để viết thơ”. Tôi hiểu rằng, theo anh Thuận, tập thơ THI VÂN YÊN TỬ” gồm 63 bài đó không phải là của anh, mà là của “tiền nhân”. Tôi không dám khẳng định “tiền nhân” theo anh nói, có phải là Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông không? Tôi còn biết người ta đã giúp anh nộp hồ sơ những tập thơ “nhập đồng” của anh để tham gia dự Giải Noben văn chương nữa ! Điều này đã khiến tôi giật mình một lần nữa vì điều tôi cho là bình thường đã vượt qua cái ngưỡng bình thường của nó mất rồi.

Bìa tập thơ Thi vân Yên T
Tôi đã bình tâm suy ngẫm mấy ngày nay để tìm cách xử xự thế nào cho hợp lẽ, hợp tình. Trong tôi, có hai luồng tư tưởng ám ảnh : Một là, về đời thực, nếu im lặng thì sẽ giữ được tình bạn với Hoàng Quang Thuận; và hai là, tôi sợ, nếu sự thật như tôi phân tích dưới đây, thì anh Hoàng Quang Thuận đã có một hành vi mà tự thân anh ấy sẽ phải lãnh theo luật Nhân – Quả của Nhà Phật. Tôi không dám khẳng định điều gì, nhưng nếu như sự thật là không có một “tiền nhân” nào mượn bút anh để viết thơ như anh nói, mà chỉ do anh biên soạn lại thành thơ từ nội dung cuốn sách “ Chùa Yên Tử, Lịch sử - Truyền thuyết di tích và Danh thắng”, thì Nam-Mô-A-Di-Dà-Phật, anh Thuận đã tạo một NGHIỆP rất nặng nề, cần phải hồi tâm mới mong có thể chuyển được.

Tôi lục trong tủ sách gia đình để tìm cuốn sách “Chùa Yên tử, Lịch sử - Truyền thuyết di tích và Danh thắng” xuất bản lần đầu tiên, từ trước khi Anh Hoàng Quang Thuận viết 63 bài thơ gọi là “Thiền”. Thật tiếc, cuốn sách ấy đã bị thất lạc, chỉ còn cuốn được tái bản lần thứ tư do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản vào Quý 2/2005. Tôi đành phải sử dụng cuốn này vậy. Cuốn sách của Trần Trương gồm có Lời nói đầu và ba chương. Chương 1 : Đường về Cõi Phật. Chương 2: Bầu trời cảnh Bụt; và Chương 3 : Ông Vua hóa Phật. Toàn bộ cuốn sách gồm có 21 bài viết giới thiệu, miêu tả về các sự kiện lịch sử, những địa danh, cảnh vật, chùa chiền trong hệ thống Danh sơn Yên Tử để giúp người hành hương tìm hiểu nơi mình đến dâng hương lễ Phật.

Với tấm lòng chân thành đó, tôi quyết định viết bài này để hầu mong góp phần làm sáng tỏ sự thật về tập thơ “nhập đồng” của anh. Nếu anh Thuận đọc mà buồn hoặc giận dữ thì tôi thành tâm tạ lỗi. Nhưng dù thế nào, tôi cũng mong anh đọc và suy nghĩ để cảm nhận được động cơ, mục đích viết bài của tôi, chỉ mong anh hiểu rằng, tôi viết với một cái tâm trong sáng, cái TÂM của một NGƯỜI THEO ĐẠO PHẬT, để giúp anh.

Tôi dùng phương pháp so sánh để chứng minh suy nghĩ của tôi, rằng : những bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận có xuất xứ từ cuốn sách nói trên của tác giả Trần Trương, chứ không phải là thơ “nhập đồng”. Tôi chỉ chọn một số bài trong tập thơ để so sánh và xin dẫn chiếu đến người đọc, nếu ai quan tâm thì tìm cuốn sách đó để so sánh các bài khác cho đầy đủ. Cách so sánh của tôi là : Nêu những đoạn văn trong cuốn sách của tác giả Trần Trương, sau đó là bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận trong tập “Thi vân Yên Tử” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn, xuất bản tháng 3/1998 để người đọc cùng suy ngẫm.

1. Trang 20-21 cuốn sách của Trần Trương (sau đây gọi tắt là cuốn sách) viết :
Hồ Yên Trung nằm ở ngang lưng núi. Hồ rộng hàng ngàn mẫu, nằm lọt giữa bốn bề núi biếc. Nước từ khe suối đổ về. Đôi gò bồng đảo bập bềnh trên sóng nước giữa hồ. Bồng đảo phủ đầy thông… Thỉnh thoảng, một vài chú cá to phởn chí, tung mình lên cao rồi rơi xuống, tạo thành quần sóng lan xa, lan xa mãi.
Ở một góc hồ, thấp thoáng trong khe núi, bầy le le, vịt trời vui đùa nhau, tung cánh… Những đêm trăng sáng, lòng hồ đầy ánh trăng. Bốn bề im ắng, chỉ nghe tiếng chim gù trên núi. Thực là một bức tranh sơn thủy hữu tình… Hồ Yên Trung – Nàng Công Chúa Ngủ Quên nay đã thức… Tạo hóa khéo bày tuyệt tác của thiên thiên. Được kết tụ bởi mây trời non nước thanh hương sắc con người. Nàng vô tư không một chút ưu phiền”.


Trong bài thơ “Hồ Yên Trung” (trang 15), anh Thuận viết :
Yên Trung vắt vẻo ngang lưng núi
Bốn bề mây biếc sóng lô xô
Đôi bồng đảo bập bềnh trên sóng
Cả rừng thông xao động mặt hồ”.


Tạo hóa bày tuyệt tác thiên nhiên
Kết tụ bởi mây trời non nước
Nàng vô tư không chút ưu phiền
Ngắm sao trời đầu gối Hoa Yên.
- Trong bài “Đêm hồ Yên Tử” (trang 17), anh Thuận viết :
Cát vàng thoai thoải sóng lao xao
Cá to phởn chí nhảy lên cao
Le le xanh biếc đùa tung cánh
Chim gù trên núi cảnh tiêu dao


Sơn thủy hữu tình động tiên đào
Lạc đường Lưu – Nguyễn đếm trời sao
Lòng hồ đầy ắp đêm trăng sáng
Vua Trần thưởng nguyệt, nhớ năm nào.

2. Trang 24, cuốn sách viết :
“ Đến hẻm núi kia có ba tên cướp nhảy ra chặn đường, vua Trần khoan thai ra hiệu cho Bảo Sái cho chúng vài lạng bạc, cả suất cơm chay để độ đường. Đoạn ngồi trên mình ngựa, Ngài thuyết giáo, thức tỉnh từ tâm, đoạn trừ tam độc trong lòng chúng…
… Cả ba quỳ sụp xuống lạy tạ và hứa rằng “ sẽ trở về lương thiện làm ăn”. Kể từ ngày đó, chúng bỏ nghề đao búa, chăm chỉ nghề nông, siêng làm công đức xây dựng chùa miếu, trở thành các tín đồ ngoan đạo của Trúc Lâm. Và từ độ ấy, nạn cướp nơi đây được tiệt trừ. Con đường dốc gập ghềnh nơi hẻm núi, kẻ lại người qua được bình an”.


Trong bài “Kẻ cướp chắn đường” (trang 19), anh Thuận viết :
Ba tên kẻ cướp nhảy chắn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương


Bỏ nghề đao búa thiện giáo đường
Sơn lâm từ ấy hết tai ương
Gập gềnh hẻm núi người qua lại
Bình an vô sự hết đạo cường”.

3. Trang 29, cuốn sách viết :
“ Trưa hè oi ả. Tiếng suối mùa mưa reo réo rắt hòa với tiếng chim rừng ca lảnh lót. Hoa rừng muôn sắc tỏa hương theo gió thơm ngào ngạt. Bụi đường trường quyện lẫn mồ hôi khiến cả hai bức bối. Vua Trần đóng khố, nhoài mình nơi dòng nước trong xanh. Dòng suối cuốn trôi bụi trần ra sông biển. Kể từ dịp ấy, suối được đặt tên : Suối Vua Tắm”.

Trong bài “Suối Tắm” (trang 20), anh Thuận viết :
Trưa hè oi ả tiếng suối reo
Chim ca lảnh lót giữa lưng đèo
Hoa rừng hương sắc hương theo gió
Đàn cá xuôi dòng nước trong veo”.


4.Trang 34, cuốn sách viết :
“ Phía bên kia cầu là cổng tam quan, dáng vẻ cổ kính, đắp nổi đôi câu đổi viết theo chữ thảo “Cổ tự lưu danh Linh Nhâm Tự”… Xung quanh chùa xum xuê cây trái. Quả trứng gà sai chíu chít vàng ươm. Quả hồng đỏ thắm như hàng trăm chiếc đèn lồng treo lơ lửng. Quả mận tím trĩu cành lúc lỉu… Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Linh Nhâm là tên của một vị Thiền sư đã được Tổ Trúc Lâm giao xây dựng ngôi chùa và nhiều năm trụ trì ở chùa này. Tên của Thiền sư được đặt tên cho chùa…”.

Trong bài “Chùa Cầm Thực” (trang 26), anh Thuận viết :
Tam quan đắp nổi Linh Nham Tự
Thiền sư có phải đặt tên thầy
Mận chín trĩu cành lúc lỉu quả
Trứng gà chiu chít cả trong mây


Linh Nham đâu khác nơi tiên cảnh
Hồng đỏ như trăm đèn lồng cầy…

5. Trang 40, cuốn sách viết :
“ Thưở xưa, cánh đồng Nam Mẫu nước ngập trắng. Từ dốc Quàng Hái, muốn vào Yên Tử, phải đi bè mà vào. Hay tin Vua Trần vào Yên Tử, các cung tần mĩ nữ của triều đình đã tìm về, gặp Vua ở tại con dốc này. Họ than khóc thảm thiết, xin Vua quay trở lại triều đình… Vua cho lập đàn tràng cầu Phật Tổ Như Lai. Vài ngày sau, nước ở hồ Nam Mẫu rút hết. Lòng hồ phơi ra, khá bằng phẳng. Đất nơi đáy hồ thật màu mỡ. Dân bản ùa ra bắt tôm, cá, khai khẩn bãi hoang, thành ruộng vườn. Cánh đồng Nam Mẫu được khai sinh”.

Trong bài “Làng Cung Nữ” (trang 28), anh Thuận viết :
Làng Mụ, Làng Nương đường Nam Mẫu
Xưa kia nước ngập trắng lòng hồ
Vua Trần thương xót đoàn cung nữ
Lòng trung không trở lại kinh đô


Vua lập đàn cầu Phật Như Lai
Nước hồ rút hết ruộng đất dài
Đáy hồ mầu mỡ - tôm cùng cá
Làng Mụ, làng Nương được sinh khai.

6. Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.

6. Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.


7. Trang 79-80-82, cuốn sách viết :
“ Hãy vào Lăng Quy Đức. Lăng quây bốn mặt thành vuông vức, bao quanh ngôi tháp cổ… Mái tường lăng lợp bằng ngói mũi hài, đổ về hai phía, dáng cong theo dáng mái chùa…Mặt ngoài các tảng đá chạm nổi hoa văn sóng nước hình quả núi, đường nét cách điệu uốn lượn rất tinh tế…Bệ tháp tạo nên bởi hàng chục phiến đá xanh ghép lại…Tầng đầu mở hướng chính nam, bên trong thờ tượng Trần Nhân Tông ngồi thiền ở thế liên hoa, vẻ mặt dung dị, cảm thông, thanh cao và trí huệ… Thi thoảng vẫn thấy xuất hiện cặp rắn đen nằm chầu bên tượng Tổ trong tháp. Trông thấy bóng người, rắn thu mình ẩn núp vào trong… Bốn cây đại cổ, thân dáng hình rồng đứng nép sau tường Lăng Quy Đức, lá rủ vào sân lăng. Cành đại trổ đầy hoa. Hương hoa thơm ngào ngạt. Cánh hoa rắc vàng sân mộ Tổ”.

Trong bài “Lăng Quy Đức (trang 43), anh Thuận viết :
Lăng quây vuông vức bốn mặt thành
Ngói hài hai phía dáng thanh thanh
Mặt ngoài đá chạm hoa văn sóng
Bệ tháp nằm trên phiến đá xanh


Tầng đầu mở cửa hướng chánh nam
Vua Trần nhập diệt cõi Niết Bàn
Rắn đen một cặp chầu bên tượng
Nền Lăng xưa chính Ngọa Vân am.

Hai cây đại cổ dáng hình rồng
Đứng nép bên tường đã trổ bông
Hương hoa thơm nát vườn mộ Tổ
Ngày xưa Tam tổ đã vun trồng

8. Trang 84, cuốn sách viết :
“ Những đêm trăng sáng, bên tháp ngắm trăng thật thú vị. Trăng treo trên cành Tùng. Trăng rắc vàng trên cánh hoa Đại sực nức hương và đính hạt sương đêm. Trăng gắn váo đỉnh Tháp . Mỗi bước trăng trôi, cảnh vật nơi đây lung linh huyền ảo”.

Bài “Trăng Yên Tử (trang 46), anh Thuận viết :
Trăng treo lơ lửng trên cành Tùng
Trăng rắc vàng lên cánh hoa nhung
Sương đêm sực nức mùi hoa đại
Mỗi bước trăng trôi giữa núi rừng


Lung linh huyền ảo ánh trăng rơi
Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời…

9. Trang 98, cuốn sách viết :
“Trong ngách hang, có một núm đá, nước nhỏ tí tách từng giọt một, cả đêm chưa đầy một bát con. Nhà sư gọi đó là sữa mẹ. Một điều kì lạ : Khi bát nước đầy, từ núm không nhỏ thêm giọt nào nữa. Nền chùa sạch khô không giọt nước thừa tràn”.

Trong bài “Sữa mẹ” (trang 52), anh Thuận viết :
Ngách hang núi đá núm vú con
Sữa mẹ linh thiêng nhỏ giọt tràn
Nhỏ dần từng giọt đêm đầy bát
Nước đầy chỉ một bát con con.


10. Trang 103, cuốn sách viết :
Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa. ngày nay, các “ông” Rồng xanh thi thoảng lại xuất hiện… Những lúc trở trời, các “ông” bò ra nằm la liệt… Một con rắn lớn từ xà ngang buông mình xuống ban thờ, náu mình vào Tượng Phật nhìn ra”.

Trong bài “Rắn xanh Yên Tử” (trang 31), anh Thuận viết :
Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa
Rồng xanh thi thoảng nghỉ trên bàn
Mấy ông rắn lớn nằm trên mái
Náu mình tượng Phật ngắm giang san.


11. Trang 108, cuốn sách viết :
“Quanh am là rừng trúc bạt ngàn. Trúc chen nhau mọc dưới tán lá của rừng cây cổ thụ. Trúc lách qua kẽ đá nền am, vươn lên những đọt măng mập mạp. Đây là phế tích Am Thiền Định. Xưa chưa dựng chùa, các nhà sư tu hành nơi am cỏ, hòa mình với chim muông, với thiên nhiên hoang dã”.

Trong bài “Am xưa” (trang 58), anh Thuận viết :
Trúc lách qua kẽ đá nền am
Đọt măng mập mạp giữa đá vàng
Bạt ngàn trúc biếc chen hoa nở
Gió thổi lau thưa vọng tiếng đàn.


12. Trang 110, cuốn sách viết :
“Thác vàng còn lớn gấp bội phần. Vách đá cao dốc đứng. Nước từ đỉnh dốc tuôn trắng xóa, khác nào dải lụa khổng lồ. Ngọn nước như từ trời đổ xuống. Cây rừng khép tán, đứng dưới chân thác ngước nhìn lên, ta chỉ thấy mảnh trời trên ngọn tháp. Nhà văn Vũ Khai đặt tên cho thác là “Thiên Thủy” (nước trời). Với Thác Vàng, nước không hề khô cạn”.

Trong bài “Thác Vàng” (trang 54), anh Thuận viết :
Ngọn nước như từ trời đổ xuống
Cây rừng khép tán nép bên khe
Mảnh trời ngọn tháp thiên thu thủy
Đâu biết nơi đây có nắng hè.


13. Trang 111, cuốn sách viết :
“ Rừng ở đây nguyên sơ và tuyệt đẹp. Cây cổ thụ vươn cao, xòe tán rộng. Rừng già âmn u. Ánh nắng mặt trời không lọt rơi xuống đất…Dây leo chằng chịt, vắt từ cây này sang cây kia. Một thế giới chim muông, hoa lá dần hiện ra…. Cành khô kêu răng rắc dưới chân. Hương cây, lá mục nồng ngai ngái. Trên đường, từng đoạn lại thấy cây Tùng cổ, như thể người xưa đánh dấu đường”.

Trong bài “Đường rừng” (trang 22), anh Thuận viết :
“ Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nắng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chim rừng líu lót với hương trời.


Cây khô răng rắc dưới chân đi
Lá mục nồng ngai hoa từ bi
Trên đường lác đác cây tùng cổ
Thợ trời khéo đặt cảnh thiên trì.

14. Trang 126, cuốn sách viết :
“ Gọi là chùa Vân Tiêu, bởi chùa tọa lạc trên triền núi phía Tây dãy Yên Tử. Dãy núi như trường thành chắn ngang luồng gió biển thổi vào. Hơi nước tới đây, ngưng đọng lại thành mây. Mây, gió bị chắn ở sườn Nam, được thoát ra nơi triền núi phía Tây. Mây trôi lờ lững trên triền non Yên Tử, tới đây lập tức bị tiêu tan. Nên dù ở gần đỉnh núi, chùa Vân Tiêu ít khi bị mây mù che phủ, khác hẳn chùa Bảo Sái ở cùng một độ cao. Ở nơi mây cứ đến là tan, nên chùa mang tên là Vân Tiêu… Phía trước cửa chùa là vườn tháp chín tầng, giống như Hòn Ngọc… Cả khối nặng tòa tháp đè lên lưng của một ông rùa đá to lớn…”.

Trong bài Chùa Vân Tiêu (trang 50), anh Thuận viết :
Vân Tiêu quay hướng phía Tây phương
Dãy núi Yên Tử án thành đường
Mây trôi lờ lững trên Yên Tử
Tùng xanh lãng đãng bóng trong sương


Mây đến Vân Tiêu mây tự tan
Chín tầng chùa tháp giữa non ngàn
Im lìm trên một ông rùa đá
Hoa cười rung cánh khóm địa lan.

15. Trang 135, cuốn sách viết :
“ Chóp núi cách tượng An Kỳ Sinh 721 mét, ban đầu, đường đi trên núi khá bằng phẳng, qua một vạt rừng cây lúp xúp, một vạt rừng cây cảnh tự nhiên, chỉ cao hơn đầu người một chút, gốc rễ còi cọc, cong queo và mốc thếch, tô điểm những đóa hoa trà mi, hoa trứng gà, hoa mai…muôn hồng nghìn tía… Chếch về phía phải, có một vạt cây rừng sú, vẹt. Thật kỳ lạ : Sú vẹt ở bờ sông lại ngự trên đỉnh núi (!). Những chú ốc sên, những chú còng… ẩn mình trong kẽ đá suốt mùa đông, chỉ đợi xuân sang là xuất hiện. chúng biến nơi đây thành vương quốc riêng, xa cách cõi trần nơi bờ sông bãi sú.

Qua khỏi vạt cây là bãi đá. Dọc sống núi cơ man nào là đá. Những phiến đá nhỏ, to, cao, thấp thiên hình vạn trạng. Đá xếp thành bậc thang nâng bước chân du khách. Có những phiến đá giống như bầy cá Sấu nằm trườn ườn phơi nắng, xen lẫn với cá voi, éch ộp, thờn bơn…Dưới chân chùa Đồng, ngổn ngang xếp những tảng đá lớn vuông vức như quân cờ. Lưng đá hằn sâu ngấn sóng nước. Những vỏ sò, vỏ ốc hóa thạch còn lưu trong kẽ đá. Đã một thời, đỉnh ngọn Yên Sơn là bờ biển. Trải qua kỳ kiến tạo vỏ trái đất cách đây hàng triệu năm, bờ bể lại trở thành chóp núi. Và đỉnh Yên Sơn đã trở thành một bảo tàng tự nhiên lưu dấu tích sự đồi thay dâu bể thời Hồng hoang”.

Trong bài “Đỉnh non thiêng” (trang 70), anh Thuận viết :
Yên Sơn tô điểm đóa trà mi
Sú vẹt non cao thật dị kỳ
Ốc, còng, sên nhỏ nằm trong đá
Quốc vương xa lánh cõi trần bi


Bậc đá làm thang giỏi thợ trời
Đá hình cá sấu nằm chơi vơi
Cá voi, éch ộp, thờn bơn dẹt
Biển cả - đại dương giữa lưng trời

Có lẽ ngày xưa thưở hồng hoang
Yên Sơn bể biếc của kim hoàng
Trải bao biến địa sông thành núi
Đỉnh Yên nay thành một bảo tàng

16. Trang 143 - 144, cuốn sách viết :
“Trên non Yên Tử, vào ngày trời quang, phóng tầm mắt tới chân trời xa tắp : Một vùng đồi núi nhấp nhô như sóng, lúp xúp dưới chân ta. Thị xã Uông Bí, mỏ than Vàng Danh, vùng Tràng Lương Đông Triều và Hà Bắc hiện ra như bức tranh thủy mạc. Xa xa, Vịnh Hạ Long xanh xanh mờ vệt đảo. Mặt Vịnh lung linh dưới ánh mặt trời. Dòng sông Bạch Đằng in bóng núi Tràng Kênh…Gió lùa vào kẽ đá, phát ra muôn tiếng nhạc bổng trầm. Giữa khung cảnh đất trời kỳ vĩ và ngoạn mục, du khách xốn xang đến khó tả. Tâm hồn nhẹ nhỏm và thanh thoát. Bao nỗi ưu phiền trần tục được tiêu tan. Cảm giác kỳ diệu ấy, chỉ khi lên chùa Đồng mới có”.

Trong bài “Trời quang Yên Tử” (trang 71), anh Thuận viết :
Trên non Yên Tử ngày trời quang
Bức tranh thủy mặc dưới nắng vàng
Nhấp nhô như sóng triền đồi núi
Xa xa một dãy Bạch Đằng Giang


Trời đất kỳ vĩ lòng xôn xang
Gió reo thánh thót những cung đàn
Chùa Đồng Yên Tử trời đất Phật
Ưu phiền trần tục thảy tiêu tan.



Tôi chỉ xin trích dẫn để so sánh một số bài như trên, còn nhiều bài thơ khác cũng có nội dung tương tự với các bài trong cuốn sách của Trần Trương. Trong số 63 bài, tôi kiểm lại thì thấy có một số bài không có liên quan gì tới cuốn sách. Cụ thể là các bài : Xúc cảm non thiêng; Cô chú thăm Yên Tử; Vân du Yên Tử; Nghỉ lại chùa Yên; Kim xà; Ân hận; Tặng sư thầy, là do anh Thuận cảm tác mà viết ra.

Từ những so sánh trên, tôi có thể suy luận rằng : Tập thơ “Thi Vân Yên Tử” của anh Hoàng Quang Thuận không phải là thơ “nhập đồng”, cũng không phải là “thơ Thiền” mà có xuất xứ từ cuốn sách của tác giả Trần Trương. Vì những bài thơ ấy thuần túy chỉ là tả cảnh vật qua con mắt của người phàm trần. Nếu thơ “nhập đồng” sẽ có giọng thơ khác, thâm linh, huyền bí và mang hồn cách của “người nhập”.

Những so sánh trên đã cho thấy, từ những bài viết trong cuốn sách của Trần Trương, anh Thuận đã có cảm xúc và dùng năng khiếu thơ của mình viết lại thành các bài thơ. Có thể trong ba đêm, nguồn cảm xúc từ cảnh vật thật, từ tấm lòng thành kính đối với Tam tổ Trúc Lâm và Danh sơn Yên Tử, lại được thông tin từ cuốn sách của Trần Trương, anh đã thành tâm viết nên 63 bài thơ ấy, để ghi lại cảm xúc của mình. Tôi chắc khi đó, anh chưa hề nghĩ đến việc quảng bá cho những bài thơ này theo hướng “nhập đồng” hoặc “thơ thiền”. Có lẽ, những tán dương sau này của nhiều người quá thái, đã khiến anh say sưa với ý tưởng ấy và thổi vào đó yếu tố tâm linh, huyền bí, càng về sau càng mãnh liệt như chúng ta đã thấy diễn biến của “Thi Vân Yên Tử” từ đó đến nay.

Để kết thúc, tôi xin xác quyết một điều rằng : Tôi viết bài này chỉ với một cái tâm trong sáng của một phật tử có pháp danh là THIỆN HÒA, hầu mong anh Thuận sẽ đọc và suy ngẫm về những điều đã làm, để trả về cho “Thi Vân Yên Tử” đúng giá trị của nó. Đó là điều tôi quan niệm rằng : đã giúp anh, vì tôi vẫn là người – bạn – của – anh !

TP. Hồ Chí Minh, 02 giờ đêm ngày 12 tháng 8 năm 2012

© Nguyễn Minh Tâm
Theo Văn Chương Plus VN
Read more…